Mùa đông Peloponese

Ở Athina chúng tôi thuê được 1 phòng trọ xinh xắn đối diện với Acropolis gồm 1 phòng khách, 1 bếp và 1 phòng ngủ với 3 giường tầng dành cho cả đội. Pierre với tôi luôn đóng vai trò đầu bếp: Pierre nấu pasta, tôi nấu mì châu á cho mọi buổi tối. Cả lũ  thường tụ tập trong phòng khách, nhai  pasta, uống bia Alpha hoặc Mythos, đôi khi là 1 loại rượu có mùihồi đặc trưng của Hy lạp . Tôi vẫn hay chơi chữ “Cứ ăn nhiều pasta thế này, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ trờ thành lũ bastard mất ”. Nhưng rồi chúng tôi vẫn cứ  vui vẻ ăn pasta hàng ngày và cực yêu cái phòng trọ nhỏ. Nơi sáng sáng, tôi bị đánh thức bởi trận chiến ồn ào giành phòng tắm, còn tối tối thì chiến tranh gối ôm xảy ra ở ghế sofa và dĩ nhiên tôi lúc nào cũng là kẻ thua cuộc. Chúng tôi gọi nó là ngôi nhà thứ 2 của mình ở châu âu.

Ban ngày chúng tôi dành toàn bộ thời gian để lang thang các con hẻm ở Athina, hoặc chui tọt vào những bảo tàng to đẹp ở đây. Phải nói rằng bảo tàng Hy lạp là bảo tàng đẹp nhất thé giới, thật đấy. Đôi khi chúng tôi cũng lạc lối ở những gian hàng trong phố mua sắm sầm uất, chỉ bởi vì Pierre muốn mua một cái quần Jeans. Với cái cẳng chân dài hơn Thanh Hằng, cậu ta dễ biến mất ở đâu đó giữa con đường, và chúng tôi phải len lỏi khắp nơi để tìm “người dẫn đường” của mình. Nhưng cũng hay, bởi nhờ Pierre, tôi cũng có cơ hội cá kiếm được vài cái áo trong mùa sale.

Ban đêm chúng tôi về nhà và thường cùng nhau uống bia, nói chuyện hoặc chạy hộc tốc tới rạp chiếu phim để xem bằng được Avatar. Mỗi tối trước khi đi ngủ Pierre lại bắt đầu điệp khúc “What’s the plan for tomorrow?” rồi cả lũ lại nhìn nhau, rồi giả vờ nghiêm trọng và cặm cụi vào netbook. Nhưng thực chất Arnab thì còn mải mê chat với cô bạn gái Mireia ở nhà, Saru bận up ảnh lên Orkut, Alex xem tình hình thời tiết, chỉ có Pierre ôm quyển Lonely planet nghiên cứu, còn tôi ôm gối ngủ gục. Sau vài lần như thế, Pierre quyết định tự đưa ra ý kiến về các địa danh mình thích rồi tự bác lại ý kiến mình luôn. Đó chính là Pierre-Edoird người lập ra cái facebook GForce và update mỗi ngày chỉ để mình mình đọc, người lập chat room để bàn kế hoạch ngay cả khi tất cả đang ngồi trong cùng phòng khách. Cứ nói về Pierre chúng tôi có thể nói cả ngày, cậu ta như một giai thoại không bao giờ dứt. Cậu ta mê Santorini, muốn tới Delphi, nghĩ về đảo Rhott, nhưng cuối cùng chốt lại “Chúng ta sẽ khám phá mùa đông Peloponese”

Sau khi đảo quanh gần như tất cả các hàng thuê xe ôtô, Pierre chọn ngay 1 em Ford màu đen cho cả lũ lên đường, khỏi phải nói tôi khóc hết nước mắt thế nào khi phải nghĩ tới chuyện đi ôtô đường trường. Nhưng với vài viên thuốc chống say xe, tôi cũng tự an ủi mình “Đây là cơ hội có một trong đời để thực sự ngắm Hy Lạp” và quả thật đó không bao giờ là quyết định sai lầm.

Những đền đài bỏ hoang

Chúng tôi bỏ lại Athina sầm uất vào một ngày lạnh cắt da. Thời tiết dường như thay đổitheo giờ, khi mà mới sáng sớm nắng còn về trên Acropolis, gió thổi bay cả trí tưởng tượng của tôi, đến trưa mưa sầm sập gõ cửa. Ngày hôm sau tôi đã run cầm cập trong vài tầng áo khoác khi đón nhận từng đợt tuyết nhẹ cuối đông ở Mystras, nhưng rồi bỗng giật mình khi thấy mình đang quấn sóc áo pull vui đùa trên bờ biển Aegean trong một chiều nắng nhẹ. Tôi đã ngắm tuyết phủ đỉnh Taygetos, tôi đã ngắm gió thổi bờ lau, tôi thấy hoa vàng mấy độ Myceane, rồi nhìn đàn cá bơi lội dưới làn nước trong vắt trên con thuyền nhỏ tới Poros. Tôi đã nhìn, đã thấy và đã nghe cả tâm hồn Hy lạp qua tiếng Bouzouki reo rắt vang lên trên ôtô nhỏ của chúng tôi. Hy lạp quả là thần thánh.

Nắng về trên Acropolis                                       Con đường ngoắn nghèo dọc theo triền núi

Tuyết phủ đỉnh Taygetos                                               Tắm biển ở Patras

Tiếng Bouzouki rất ảm ánh, nó đi vào cả giấc mơ tôi khi tôi ngủ vùi trên bờ vai 2 đứa bạn trong suốt hành trình. Tôi đổ bởi tác dụng của thuốc say xe, mặc dù Alex khăng khăng bảo rằng tôi lấy cớ. Arnab thì bảo “Con gái thật nhàm chán, không biết làm gì ngoài ngủ thôi à” Bởi ngay cả Saru cũng ngủ gục trong khi cô nàng không hề uống thuốc. Nhưng có đôi lần mở mắt ra tôi thấy những điều kì diệu. Tôi thấy ôtô lao đi giữa màn mưa tháng giêng, xẻ dọc những vườn cam đỏ rực như ngày xưa Mose chia đôi biển tìm con đường tới vùng đất hứa. Những vườn cam căng tràn sức sống như mời gọi, nhưng tôi chẳng muốn thử chúng tí nào, sau khi đã ăn phải một quả cam chua chát và đắng  ngoét trên 1 con hẻm  ở Athina. Có lẽ tôi phải đặt tên cho nó là “Đường cam rực rỡ” , bởi cái rực rõ ánh xanh, ánh cam như làm bạn vui vẻ tới bất tận. Kế sau những con “đường cam rưc rỡ” là những “đường bông tuyết” bởi những lau sậy trắng tinh rồi những con đường ngoắn nghèo dọc theo triền núi. Một bên núi đứng sừng sững, một bên biển gọi bao la. Tôi không nghĩ có bao giờ mình có thể quên được những khoảnh khắc sống động như thế.

Ôtô cứ lao đi một mình như chỉ mình chúng tôi làm chủ cả đất trời này. Tôi là chủ nhân của đỉnh núi tuyết kia, của biển xanh này, của cả bầu trời ảm đạm. Những  xúc cảm dấy lên trong tôi, khi thì nghẹn lời trước những điều kì vĩ, khi thì hứng khởi hồi hộp khi ôtô lao lên đỉnh núi, khi sợ sệt lúc ôtô quá đà lao ầm ầm vào bức vách trước mặt và quả thật chúng tôi chỉ dừng lại trước nó 30 cm. Tôi vẫn thường nói Pierre là kẻ lái xe thiên tài khi cho tôi đi Disney land miễn phí thế này, nhưng cũng là kẻ ngông cực độ khi không hề phác thảo trước kế hoạch cho mỗi chuyến đi. Chúng tôi chỉ cứ đi, dọc theo những con đường zig zag mà không hề biết nó sẽ tới đâu. Không nhà trọ đặt trước, chúng tôi dừng chân ở bất kì nơi nào có hứng thú. Ngẫu hứng một cách rất Hy Lạp.

Có khi là chỉ là Epidavros bé nhỏ bởi Pierre muốn chiêm ngưỡng nhà hát cổ lớn nhất của Hy lạp. Nhà hát có dạng tròn, ở chính giữa là sân khấu, bao xung quanh là hàng ghế bậc thang dành cho khán giả, nghe Pierre nói thì nhà hát có thể chứa tới hàng chục nghìn người. Hàng ghế này được làm bằng đá hoàn toàn, và được chia thành 2 mức rõ rệt, bởi ban đầu chỉ có khoảng 34 hàng nhưng sau này đã được mở rộng thêm 21 hàng nữa. Đây thực sự là nơi giao lưu văn hoá thời xưa không chỉ giữa con người với con người mà còn giữa con người và chúa trời.

Đặc biệt với thiết kế hoàn hảo, ở đây người biểu diễn chỉ cần đứng ở bục chính giữa sẫn khấu,  không cần sử dụng mic hay amplifier mà âm thanh vẫn có thể bao trùm toàn bộ nhà hát. Lũ chúng tôi đã tranh nhau thử làm diễn giả, còn bạn bè thì chạy lên hàng ghế cao nhất để nghe. Thậm chí Pierre (ngay cả tôi) còn bắt đầu cái giọng “opera trữ trình” của mình “ồ ố ô ố ồ”, giọng ca vang khắp, đập vào những hàng ghế và dội lại, nghe như một ca sĩ chuyên nghiệp. Ngày nay, hàng năm vẫn có những buổi biểu diễn tại nhà hát này, nhưng tôi không tưởng tượng được họ sẽ soát vé thế nào khi mà cửa ra vào đã bị tàn phá.

Hay có thể đó là Korinthos – thành phố cổ mang tên hậu duệ của Heliot. Với thế tựa lưng vào núi, tôi khá sững sờ khi biết con đường chính ở thành cổ  từng nối ra  bến cảng sầm uất trên Aegean xanh ngọc. Sống tới hàng nghìn năm tuổi, Korinthos thu vào mình tinh hoa của các đế chế lụi tàn , trong đó dấu ấn rõ nét nhất còn lại là của thời kì Roman. Từ các hiện vật còn lại trong bảo tàng cho tới các con đường hay tàn tích phòng họp (forum), dấu tích Roman hiện lên trên các bức tranh tường hay những mosaic.

Đài phun nước Roman                   Dấu tích  mosaic Roman

Ngay trung tâm thành cổ, nơi từng có những con suối chảy qua, 3 đài phun nước to lớn hiện lên để khơi nguồn cảm xúc cho con người. Đài phun nước Roman mang đến xúc cảm thơ ca, thể hiện sự to lớn hoành tráng nhất. Tôi nghe loáng thoáng từ một cô giáo người Hy lạp giảng cho học sinh thì đài phun nước này áp đảo hẳn đài phun nước Byzantine bởi số lượng phòng lên tới con số 7. Tôi đã từng năm mơ thấy hàng nghìn năm trước, những thi sĩ mặc áo tonga đang vươn tay hứng từng giọt thơ từ đài phun nước mong kiếm tìm mạch nguồn cảm xúc cho những áng văn bất hủ. Rồi họ nhìn sang tôi lắc đầu “cô không bao giờ có thể là một nàng thơ” hehe.

Hay là một nơi nào đó tôi chẳng còn nhớ rõ tên chỉ bởi Lonely planet víêt rằng nơi đây có một nhà tắm cổ mà khi chúng tôi đến đã hôi rình như hàng tấn rác thoát ra từ linh hồn kì cựu trong Sprited away. Cả lũ chạy nước rút để thoát khỏi cảnh nôn mửa không tránh khỏi nếu ở đó vài phút.

“Đường phố buồn, một đường phố buồn
Đường phố buồn, mọi người đi vắng
Trong kinh đô tiêu điều dấu ngựa hồng
Đường im lìm”

“Có những con đường” — Trịnh Công Sơn —

Đường đi dọc theo miền Nam Hy Lạp mở ra cả thế giới cổ xưa. Những đền đài tưởng chừng bỏ hoang không hề hoang phế, mang vẻ đẹp mặn mà quá khứ – thứ mà dường như Athina đã đánh rơi ngoài Aegean.

3 thoughts on “Mùa đông Peloponese

  1. July 25-26 – held by the Pikes Peak Obedience Club at Latigo – Trails in Black
    Forest, Colorado. In the centuries prior to the 17th and
    18th centuries, record keeping was very scare in many areas,
    though a number of events are well recorded it was
    often found that many records were kept by monks, priests,
    and other clergy as they were often the only group for miles that had any knowledge of how to read and write.
    Robert Dykstra, in The Cattle Towns, talks about the
    cattle trade and their brevity.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s