Hôm nay theo dự kiến bão về. Bão sẽ hoành hoành dọc bờ biển chữ S, sẽ phá tung nhà cửa, và hàng ngàn người có thể sẽ phải cứu đói. Tôi uể oải thức dậy như con mèo lười, phụng phịu vì mới 7h sáng mẹ đã gọi dậy

“Trời mưa bão, con ngủ đang ngon mà”

“Mưa hết lâu rồi, nắng lên rồi kìa. Dậy mau còn về quê” mẹ tôi nói vọng lên

“Ơ thế hết bão rồi à” tôi nửa tỉnh nửa mê, nói đầy tiếc nuối

“Không phải hết bão, mà là bão không về” mẹ tôi bắt đầu cáu cẳn “con dậy ngay đi, sửa soạn về quê”

Tôi bừng tỉnh, chạy ngay ra ngoài cửa sổ, nhoài người ra thẩm cái mũi ẩm ướt của một đêm mưa. Nắng đang nhẹ nhàng sà vào đám xương rồng trên lan can.  Bão hụt.

Trời sau ngày bão đẹp lạ lung. Nằm ở ghế sau ôtô, tôi ngắm nhìn những mảnh trời qua ô cửa kính. Trời một màu xanh nhẹ, chuyển dần sang tím nhạt. Những đám mây lững lờ, nhẹ rất nhẹ như sương như khói lan toả trên bầu trời. Cảm giác như những làn khói kia mát lạnh như kem và nhẹ tênh như kẹo bông. Đã lâu bầu trời mới “với tới” gần tôi đén vậy. Bố mẹ ở phía trước vẫn đang ồn ào về chuyện dự báo thời tiết “luôn luôn đúng” của nhà đài, còn tôi tận hưởng thé giới của mình. Mây, trời, gió, chẳng còn gì tuyệt hơn thế, chỉ có thể là con thiếu một bãi cỏ xanh. Tôi vẫn tự ví mình là gái già, cô độc, nhưng dường như cái lãng mạn tuổi đôi mươi vẫn chưa bị nhoè, tôi vẫn còn lãng mạn lắm chứ. Chỉ có điều lãng mạn chẳng thể mài ra hoàng tử.

Mẹ lại bắt đầu những câu chuyện bất tận về làng quê, về những ngày tôi mới ra đời. Bố ngồi hưởng ứng, còn tôi vắt óc lên ghi nhớ để mai này còn kể lại với con cháu “Này nhé, ngày xưa tôi sinh ra ở làng, đẻ ra bên chái nhà của ông nội với ông lang băm vườn và  lớn lên bằng sữa khoai.” Bố tôi vẫn hay nỏi rằng “trẻ con được sinh ra từ làng là tốt nhất, chúng biết đâu là nơi chôn rau cắt rốn”. Tôi biết rõ từng tấc đất chôn rốn của mình, cũng như biết người đàn bà hám ăn nào đã xin mất cái nhau của tôi. Suy cho cùng, phần khai sinh của tôi vẫn đã, đang, và sẽ mãi ở lại cái làng Hà mà mọi người vẫn nói

“Làng Hà ăn khoai không bóc vỏ

Ăn chó không cạo lông,

Ăn hồng không bỏ hạt”

Cái thói keo kiệt của dân làng Hà là cả một bài ca bất hủ, để mỗi lần xin tiền bố mẹ không được tôi lại réo lên “nhà mình đúng con cháu làng Hà”. Đôi lần tôi cũng lấy đó làm cái cớ cho sự hà tiện của mình. Nhưng chỉ sống 3 tháng ở làng, còn phần còn lại của cuộc đời tôi dành hết bên phố, nên tôi vẫn tiêu hoang như những con đường quốc lộ.

Làng Hà vốn nổi tiếng với dưa hấu Mai An Tiêm, nhưng năng suất thâp, cả làng chuyển đổi sang trồng khoai đất cát. Mẹ bảo ngày xưa một nồi cơm 2 phần khoai, 1 phần cơm, mà ngon khủng khiếp. Tôi tin là đúng, vì tôi cũng là kẻ hám khoai số 1. Ngày còn bé, thỉnh thoảng hè về chơi, tôi cũng hay theo các dì các cô đi mót khoai trộm. Ăn ngon lạ lùng.  Bây giờ, cò bay hết đất cũng chẳng còn tìm thấy những luống khoai đỏ ngày xưa. Tôi thầm tiếc thương một phần tuổi thơ tôi chẳng còn.

Nhà ông tôi ở ngay đầu xóm, tuy rộng rãi nhưng vẫn nhỏ bé so với xung quanh. Ngày xưa bà tôi hì hục bê từng hòn đá, viên gạch về tích luỹ. Sau mấy năm mới xây nên được căn nhà. Nhà bao quanh bởi những cây nhãn to xum xuê, xưa bố tôi trồng từ hạt. Khó có thể tin được từ một hạt nhãn, bây giờ chúng tôi ăn những mùa đầy quả. Mỗi trái nhãn to như trái vải, ăn ngọt sắc. Năm nào bà cũng bán, cho tiền chúng tôi vào năm học mới. Từ ngày bà mất, nhãn bớt sai quả. Từ ngày ông  mất, nhãn không còn đậu trái. Năm nay, bố tôi hì hục trèo, vít cành, mới kiếm được vài quả nhãn chin mọng đầu mùa thắp hương.  Ai cũng bảo “Nhãn đi theo ông bà tôi”, tôi thì nghĩ cái gì cũng chỉ có thời của nó.

Đêm, nhà mất điện. Bố mẹ đưa chiếu ra ngoài hiên hóng gió. Gío thổi lao xao từ những rặng cây sau vườn, mang theo tiếng con côn trùng nào đó cứ rù rì rù rì. Ngày nhỏ tôi sợ chết khiếp trước những tiếng kêu ma quái ấy. Đêm mùng 7, trăng khuyết mà sáng trắng. Sáng tràn khắp khoảng sân nhỏ trước hiên nhà, rọi lên hình bốn chị em tôi. Hồi ấy, tôi, em trai, cùng những đứa em con cô hay chơi “liếc” lon bia, trò ưa thích của tôi vào đêm sáng trăng. Phải nhắm thật trúng đích và chạy thục mạng. Cuộc đời cũng thế, phải tìm được mục tiêu cho cuộc sống và cố chớp lấy nó. Đó là mùa hè vui nhất tôi từng có ở quê.

Ngày chúng tôi đi câu cá cờ ở ven ruộng, chiều lại lang thang thả diều, leo núi. Ông dẫn chúng tôi đến rạng núi đá và nói “lên tới đỉnh sẽ nhìn thấy biển ”. Tôi hì hụi leo theo những lối mòn của những kẻ bán rượu làng bên hay băng qua để sang bán cho làng tôi. Đường trèo thoai thoải làm tôi leo nhanh hơn tất cả. Lũ em bé vừa leo vừa như bò ra sườn núi, mặt mày sợ hãi. Và đúng thật, tôi đã thấy biển, xa rất xa. Biển không xanh rì như tôi vẫn ao ước, nó xám bạc nhưng mênh mông, mời gọi. Sau này tôi vẫn hay trêu bố “Có phúc đẻ con biết lội, có tội để con biết trèo. Bố có tội rồi”

Những ngày ở quê, tôi rảnh rang, nhàn nhã, đến lười nhác. Tôi lớn tồng ngồng mà vẫn chạy chơi với bọn trẻ đề bà giặt giũ vì bà bảo chẳng mấy khi chúng tôi về chơi.  Bà tôi đi chợ, ông ở nhà nấu cơm. Ông tôi làm muối lạc ngon nhất thế giời, còn bà tôi rán cá mòi trứng vàng ươm nhất trần đời. Mỗi bữa ăn chúng tôi lại cụng ly thứ coca cola nhái rẻ tiền, mà thấy còn thích hơn đồ thật. Sớm ra vườn, chúng tôi đánh thức lũ na, hái đầy rổ những trái chin lựng, ăn tới no thì thôi. Chiều về quậy lũ nhãn, trèo và ăn rả rich ngay trên cành. Tôi cứ tưởng như mình là Tôn Ngộ Không ở hoa quả sơn.

Ngày tôi về phố, bà khóc, tôi biết bà nhớ thằng em tôi, nhưng tôi vẫn cho mình vào cùng hội với nó. Bà dặn “Hè năm sau về, chơi tiếp với bà”

Hè năm sau chúng tôi về, bà không còn, chúng tôi chẳng bày trò chơi nữa. Chúng tôi bất chợt thành người lớn cả. Cả lũ ra sau bếp, lấy gạch vẽ lên tường rêu. Em tôi vẽ ngôi nhà, tôi vẽ cái giếng, có đứa vẽ cây chuối, đứa khác lại vẽ cây dừa, rồi chúng tôi ghi “Nhà ông bà”. Nửa năm sau, sét đánh gẫy hai cây dừa đầu cổng, nhưng hình vẽ trên tường vẫn còn. Từ đấy, tôi không còn nghỉ hè ở cái xó ăn hồng không bỏ hạt ấy nữa.. Lũ trẻ chúng tôi lớn lên, xa nhau dần, thỉnh thoảng ngồi nói mấy chuyện vớ vẩn về những bộ phim truyền hình và những vấn dề của phố.

Trời về đêm, mỗi lúc một thẫm. Những chấm nhỏ đang di chuyển nhanh qua bầu trời xanh thẳm phía xa, tôi hét lên:

“Máy bay kìa bố”

Những máy bay từ các vùng đất khác nhau đang bay về với Hà Nội, còn chúng tôi đang cố tách khỏi xứ lắm người nhiều ma ấy. Mẹ tôi cũng hào hứng đếm máy bay cùng tôi.

“Lại máy bay nữa kìa” tôi lại tiếp tục

“Lần đầu tiên mẹ thấy nhiều máy bay đến thế”. Rồi bà tiếc rẻ “Bao giờ mẹ mới được đi máy bay thế nhỉ?”

Tôi ngồi nuối tiếc cho những người ấm lịch như mẹ. Họ sống, họ làm việc,  và chỉ loanh quanh từ nơi làm việc tới xó bếp. Đôi lần học hành vất vả, tôi ước giá như mình không nhiều đam mê hoài bão đến thế. Cứ túc tắc ra trường, cưới chồng, sinh con, và quây quần trong cái ổ kén thì có khi lại hạnh phúc, vui vẻ. Nhưng cuộc đời cứ cuốn tôi đi, không cho tôi cái thú an nhàn. Mỗi lần tới một miền đất mới, tôi đều hồ hởi bảo mẹ “Con đã tới nước thứ 8, nước thứ 9”. Còn mẹ bảo “Mẹ chưa từng đi máy bay”. Tôi lại không chút hối hận về sự ra đi của mình.

Trong nhà nóng quá, cả nhà tôi quyết định ngủ ngoài hiên. Ba người án ngữ ngay cửa chính, tôi nằm giữa để an tâm không bị trộm khiêng đi mất. Tôi cựa bên trái thấy mẹ, cựa bên phải thấy bố, thấy yên tâm như thưở chưa “ra rìa”. Cảm giác hỗn độn của những mảng tuổi thơ chắp ghép về trong giấc mơ, tôi chập chờn bơi trong kí ức được sáng tạo lại, nhưng vẫn an giấc. Đàn dơi từ đâu tìm đến những quả nhãn còn sót lại. Xoẹt xoẹt, dơi bay qua bay lại trên đầu chúng tôi. Mẹ không ngủ được vì nghe tiếng dơi bay ngỡ bước chân ông về.

Sớm mai dơi bay đi, đàn chào mào đã sà tới, í ới gọi nhau trên những quả cuối cùng. Tôi hậm hực tỉnh dậy vì kẻ phá đám. Vỏ nhãn đã la liệt quanh gốc, xác xơ, như bị người ăn. Bố tôi ngồi thương nó như con mình. Dù gì cũng chính tay bố đã vun mầm, chăm bón nó từ ngày đầu tiên. Tôi ngoác miệng ra “Cây nhãn này phải được gọi là anh cả trong nhà mình mới đúng”. Bố vác cây sào dài, một mình leo lên nóc nhà, xua đàn chào mào. Tôi đứng dưới hứng lấy những quả còn sống sót. Tiếc là tôi không có cái váy đụp để hứng như cô gái trong tranh Hứng dừa. Nhãn vương ra quần áo tôi, bê bết những màu nâu loang lổ, nhưng mẹ cũng chẳng thèm mắng. Bà còn bận khâu cái cổ gà do lỡ tay cắt đứt hôm qua khi làm gà lúc nhá nhem mất điện . Hôm nay nhà có giỗ, đàn bà trẻ nhỏ lại tất bật như lễ tết. Bố và các ông ngồi rung đùi, uống nước nhàn nhã như bao đời vẫn vậy.

Các thế hệ cứ lớn lên, lớp này thay lớp khác nhưng cái nếp sống ở làng Hà vẫn thế. Kẻ ở lại vẫn nhớ mặt thuộc tên  kể cả  kẻ ra đi, còn người ra đi chẳng còn biết liệu mai này có trở lại. Tôi cũng thế, tôi thuộc về nơi nào đó khác, chỉ có tuổi thơ tôi thuộc về nơi này. Mỗi khi một căn nhà tầng xây lên, một phần tuổi thơ tôi lại hụt xuống. Tôi đổ vì bão hụt mà lòng người hụt hẫng.

MTN

7/2010


One thought on “Bão hụt

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s