Ăn bánh ngày mưa

Hà Nội lại bước vào những ngày mưa tháng 8 dữ dội, bão lũ đang tìm đến với dải đất chữ S. Những người bạn miền Trung của tôi kêu trời “Thương quá quê tôi, hết hạn hán lại bão lũ”. Chẳng phải chỉ quê các bạn, quê tôi cũng đang lũ. Trời đang bù đắp cái bâng khuâng của cơn bão hụt tháng trước thì phải, khi mà nhà đài dự báo cơn bão sẽ cực kì khủng khiếp.  Người người nhà nhà tích trữ thức ăn, còn các bác chủ tịch huyện “trời không mưa cũng mặc áo mưa” để lên hình cho đẹp. Và bão không thèm tới.

Lần này nhà đài nói vẻn vẹn “Ngày mai trời sẽ mưa” và thế là trời mưa luôn cả tuần, Hà Nội nguy cơ phải rút cạn hồ Tây lấy chỗ chứa nước, còn các tỉnh miền trung thì lao đao. Chẳng có tường thuật trực tiếp nữa khi mà các bác chủ tịch cũng nằm nhà tránh bão thì lấy ai ra đội mưa hô hào và lên hình nữa. Nhưng tôi cũng chẳng phải kẻ ưa bàn tán về lỗi của nhà đài, bởi họ nói thì họ cứ nói, mình tin hay không là chuyện của mình. Ai bảo nhẹ dạ cả tin, rồi bây giờ đi đổ lỗi, thật quá ư bất công với các bác dự báo thời tiêt.

Mưa, tôi nằm nhà loay hoay với những  “giấc mơ con đè nát cuộc đời con”.  Lôi mấy bài viết từ những năm lâu lâu rồi ra đọc, tôi vớ được bài này, đúng phóc tâm trạng như bây giờ. Cứ lôi kỉ niệm lên phơi khô trên mặt internet thế này, mai này chắc chẳng còn cái gì trong tôi…

Ăn bánh ngày mưa

Hôm nay cơn bão số 4 đang đổ bộ vào vịnh Bắc Bộ, do thói quen sống ở những vùng đồng bằng, nên tôi gần như không bao giờ thấy lo sợ khi bão ập tới. Thậm chí khi nhỏ tôi vẫn ao ước mưa bão lũ lụt để có thể chèo thuyền bơi trên đường, hay nửa đêm cả nhà choàng tỉnh chạy lên tầng để tránh nước ngập. Có lẽ đứa trẻ con này cũng thế, cứ xem Maruko mà xem, ngay cả trẻ con Nhật mà cũng ao ước mưa lũ. Tôi và em trai thường ước được sống trên thuyền, xung quanh là đồ đạc trôi lềnh bềnh và được ăn mì tôm sống. Tất nhiên mọi người đừng nghĩ ăn mì tôm sống là một cách ăn uống tuềnh toàng, đơn giản, khốn khổ đấy nhé, cũng là cả một nghệ thuật.

Những ngày mưa tôi sẽ được nghỉ học ở nhà, bố sẽ không đi công tác, mẹ tôi sẽ ngồi làm bánh cravat hoặc bánh con sâu, mãi về sau này thì mẹ còn làm thêm món bánh nhãn, như sự thực là tôi chỉ thích hai món bánh độc đáo kia thôi. Bạn đừng bảo là cũng biết hai món bánh này nhé, tôi không muốn tin đâu.

Về cách làm thì hai loại bánh này khá giống nhau, đều nặn từ hỗn hợp bột mì, trứng, vani. Cái công đoạn nhào bột này đòi hỏi khá nhiều sức lực, nên đứa lăng xăng như tôi thường chỉ ngồi à ồ thán phục. Với bánh cravat mẹ thường dùng một cái chai thuỷ tinh để cán bột mì thật mỏng, rồi cắt thành những hình chữ nhật đều nhau, sau đó mẹ lấy dao cứa một đường ở giữa miếng bột, rồi uốn phần dưới của hình chữ nhật qua khe hở đó, với cách làm này bạn sẽ được hình một chiếc cravat như thật, nếu muốn giống hơn thì bạn có thể cắt đuôi cravat hơi vát một chút nữa, nhưng tính tôi thì chỉ thích ăn ngay nên thẩm mĩ cũng mặc kệ.

Món bánh con sâu thì có lẽ đơn giản hơn một chút, bạn chỉ việc nhào bột, rồi lấy nặn lấy những viên bột tròn xoe như viên bi, sau đó thì đặt nó lên lòng bàn tay, và lấy bàn tay kia đập bẹp lên thành hình đồng xu. Phải nói là tôi cực thích công đoạn này, nó không đòi hỏi sự khéo léo (thứ mà tôi chưa bao giờ có) mà lại phát ra tiếng đen đét rất vui. Cuối cùng là lấy một chiếc lược đã được gột thật sạch (may mà mẹ không lấy lược của tôi nếu không có chết tôi cũng không dám ăn bánh), dính đồng xu bột vào  ngón cái hoặc hai ngón trỏ và ngón giữa, từ từ ép lên chiếc lược, từ từ thôi, như vậy đồng xu của bạn sẽ được uốn cong lại và có các khứa rất đẹp y chang các khớp của con sâu vậy.

Tôi thường giúp mẹ kệ nệ bê cái bếp dầu ra giữa nhà để bắt đầu rán bánh, công đoạn này thì tôi thường không khoái, vì thực sự chẳng có gì thú vị, mà tính kiên nhẫn của tôi lại không cho phép nữa chứ. Sau khi rán là tới ngào đường (tôi thấy cái thuật ngữ này rất hay và hợp lý), mẹ thường nấu chảy đường lên, rồi lấy thìa trải lên mặt bánh, để bánh vừa bóng vừa giữ được đồ dòn lâu hơn là cho đường vào bột mì ngay từ đầu. Đây là công đoạn khó nhất với tôi, vì phải dò xem lúc nào đường đã đủ độ để tưới lên bánh. Mẹ thường hay lấy đũa nhúng vào nồi đường, sau đó nhỏ vào trong một bát nước lạnh, nếu đường đã chuẩn độ thì sẽ tạo thành giọt tròn xoe, còn nếu không nó sẽ nát bét, đương nhiên. Bạn có thể thấy ở kiểu bọc đường này trong bánh nhãn hoặc những gói quẩy dòn tan hay bán ở cổng trường. Nhưng tôi thì thường thích nhấm nháp bánh khi mới rán xong, không hiểu do lúc đó bánh ngon vì vị bùi bùi, ngậy ngậy của trứng chưa bị át bởi đường, hay vì làm việc bị cấm đoán thường thấy phấn khích hơn.

Tôi không biết mẹ học từ đâu món này, có lẽ là từ bà ngoại, còn bà ngoại học từ đâu thì tôi chịu. Bởi bà tôi là người Huế, trong thời gian chiến tranh chống Pháp, bà di cư sang Thái Lan và làm đầu bếp cho nhà hàng Trung Quốc (đúng là sự giao lưu quốc tế tuyệt vời mà chắc gì các quốc gia đã thực hiện được). Thế nên bảo đây là món ăn Việt, hay Trung, hay Thái thì tôi chịu hẳn. Sau này dù đi kha khá nơi ở miền Bắc, tôi chưa từng ăn loại bánh nào như thế. Ngay cả đứa bạn thân của tôi cũng thấy lạ khi nhìn thấy những món bánh này, thậm chí nó còn bắt chước làm theo, à nói đúng ra là tôi cùng nó đã hì hục làm ra một mẻ bánh con sâu béo núng nính, gọi là thế vì thay vì bánh cuộn tròn thì chúng tôi làm thành bánh cục tròn, đúng là tay nghề của những đứa bé lớp 7.

Ôi kể tới đây là tôi đã thèm chết đi được rồi, mặc dù tôi cũng vừa mới nhấm nháp xong vài gói bim bim, nhưng thức ăn mẹ làm thì vẫn “dễ chết” hơn nhiều. Bây giờ mưa bão nhiều hơn hẳn, những bánh thì chẳng thấy đâu. Mẹ tôi nhác đi hay là do tôi không còn đủ nhõng nhẽo để đòi quà nữa nhỉ. Thỉnh thoảng tôi cũng muốn làm khi mưa xuống, nhưng mẹ tôi thường can ngăn bảo làm mất công quá, thích ăn gì thì mẹ cho tiền mà mua, thế là đâm ra tôi cũng lây bệnh lười của mẹ hay là tôi bị mắc bệnh đánh mất truyền thống gia đình trong thời kì toàn cầu hoá ấy mà.

Mưa vẫn đang lộp bộp trên mái tôn não nề. “Trời còn làm mưa, mưa rơi thênh thang” tiếng nhạc du dương vang lên bên đàn ghita gỗ nhà bên, chú hàng xóm đang nghêu ngao. Lắng nghe mưa tôi lại thấy mình cô độc. Mưa trôi trên mái nhà như nỗi buồn bâng khuâng đang trôi qua tay tôi khi tôi cố ghi lại những kỉ niệm êm đẹp này.

“Nga béo xuống làm bánh cravat đi”, thật kì lạ 10 năm rổi đấy, tôi mới nghe em tôi đòi ăn bánh này. Lần này tôi quyết sẽ đánh nhau với xu hướng toàn cầu hoá, đánh nhau với cái lười nhác tiểu tư sản, để giữ nét quốc tế rất ẩm thực này. Thật đấy.

12/7/09

Advertisements

Dưới ánh mặt trời Süddeutschland (Baden-Württemberg )

“Do you have to go to Germany with me?”

Tôi nhận được những dòng như thế vào những ngày cuối tháng 5 nắng rực rỡ và gió bát ngát. Pierre gửi email này cho tôi sau khi đã bị Arnab cậu bạn chí cốt của cậu ta khước từ vì sắp bảo vệ luận án. Tôi ngẫm nghĩ “Hmn, tại sao tôi phải đi Đức với cậu chứ”, nhưng tôi cũng không bực lâu làm gì vì đó là sự sai ngữ pháp phổ biến của Pierre, thay vì viết “Do you want” thì cậu ta cho một câu xanh rờn “Do you have to ”. Đợt đó tôi đang bù đầu trong những bài tập lớn cuối cùng trước khi kì blocus thứ hai nên dĩ nhiên tôi khước từ, kèm theo sự kêu gào thảm thiết và sự căm phẫn trường UCL (Université Catholic de Louvain nơi tôi đang học).

Một tuần sau, Pierre gửi tiếp một email, lần này cho cả Alex để thăm dò chuyện đi Đức. May mắn lúc này chúng tôi đã hoàn thành xong việc học. Chúng tôi quyết định đi theo tiếng gọi của Pierre để nghỉ ngơi cuối tuần 3 ngày trước khi bước vào đợt blocus dài đằng đẵng đắm mình trong 4 bức tường, máy tính và pasta.

“ Này tôi sắp đi nghỉ cuối tuần ở Süddeutschland (miền nam nước Đức)” tôi khoe với với Vengat – anh chàng cộng sự Ấn Độ đắc lực trong học và làm nhóm với tôi

“wow, đi với ai thế?

“Alex và Pierre, rồi Alex rủ Marti đi cùng, còn Pierre rủ Leen, Leen học cùng Saru năm ngoái  và Saru bảo cô nàng này chẳng tốt, còn tôi không thích Marti cho lắm, vậy là tôi cô đơn toàn tập” tôi  bắt đầu bài ca than phiền

“Ha ha” Vengat đã cười ầm ĩ đầy hân hoan trong buổi học cuôi cùng của năm học.

Ngoài kia hoa mugette đã ngủ quên trong mùi hương.

……………………………

Pierre bằng tuổi tôi dù đã ra ngoài đi làm được một năm nhưng anh chàng này cực kì ham chơi. Cậu chàng chuyển ra ngoài sống cùng bạn bè đã lâu và gần như tuần nào cũng tổ chức party, chưa kể tới kế hoạch 6 tháng ở châu Phi đang mời gọi cậu ấy vào cuối năm nay. Nhân dịp bố mẹ đi nghỉ mát, cậu ta lấy ngay ôtô gia đình để đưa bạn bè đi một vòng miền nam nước Đức. Cậu ta bảo “tôi nghiện Đức bởi không có ở đâu bia ngon như ở đây”. Điều đó thực sự đầy hứa hẹn đối với tôi.

Chúng tôi lên đường vào chiều thứ 6, khi tôi kết thúc buổi học cuối cùng, còn Alex cúp cua do bận ở nhà chuẩn bị hành lý. Pierre mang con xe yêu thích của cậu ta tới LLN đón chúng tôi. Đấy là cái xe tôi cực ghét bởi nó là loại xe dành cho gia đình có trẻ nhỏ, không có 2 cánh cửa hậu, Mỗi lần tôi muốn đi vào ghế ngồi, đều phải vất vả trèo qua hàng ghế trước và không gian xe cũng khá bé. Nhưng sau này nghĩ lại thì đó lại là con xe mà tôi yêu thích nhất.

Lên đường lúc 5h chiều khi trời vẫn còn sáng, tôi uống một liều thuốc chống say và lại gà gà ngủ như mọi khi, trong khi Alex nói chuyện với Mati bằng tiếng Tây Ban Nha, thì Pierre hoá ra rất cô độc. Cô độc như chiếc xe lao vun vút trên những con đường quốc lộ lộng gió đầu hè. Những cánh rừng thông âm u sừng sững hai bên đường hút mắt nhìn. Những cây thông khổng lồ như những gã Titan và kiên định như những chú lính chì, chen chân đứng duyệt binh bảo vệ cho vương quốc bóng tối bí ẩn. Tất cả ập tới cho tôi cảm giác mát lạnh tới ghê người. Rừng thông này nối tiếp rừng thông kia dường như mãi mãi, cho tới khi những cối xay gió trắng tinh hiện ra thì chúng tôi biết mình đã chạm những thung lũng ở Luxembourg. Dừng lại nơi đây để ăn tối, lại như mọi khi Mc Donald là bạn đồng hành lý tưởng, tôi nhấm nhẳng gặm hết 2 cái cánh gà cháy của mình, rồi ngao ngán nghĩ về nửa chặng đường nữa cần phải chinh phục.

500 km tưởng chừng như là quá sức đối với đứa say xe thừa chết thiếu sống như tôi, vậy mà khi qua biên giới Đức, những cánh đồng hoa vàng nở rộ bao la, tôi như sống dậy hồn nhiên hơn bao giờ hết. Tôi áp mặt vào cửa kính nhìn ra cánh đồng hoa cải. Thứ cải để làm dầu, làm mù tạt cay xe ấy mà lại đẹp mê lòng tới vậy. Thật là chán, nếu tôi là lái xe, tôi đã dừng lại để vục đầu vào cánh đồng bất tận ấy và quên hết chiều tàn, xuân muộn. Những giai điệu ầm ĩ “Allez allez belges” vang lên làm kéo tôi về với cái xe 4 chỗ. Bài hát nhắng nhít như một bài cổ động nhưng cũng hào sảng như bài quốc ca vậy, khiến chúng tôi không khỏi sặc cười. Này, chiều hè nắng, nhạc nhộn nhàng, bạn bè bên cạnh, một vùng đất mới sắp đến, xa khỏi việc học hành, tôi yêu cái ngày hè này quá.

Chạm chân trên quảng trường trung tâm Karlsrule vào lúc gần 10h đêm, đêm hè mà lạnhngắt như đông còn lảng bảng.Thành phố này vẫn thức, không như Louvain la neuve giờ này đã ngon giấc. Đường dẫn vào quảng trường hắt lên ánh sáng trắng từ dàn đèn trên mặt đường trong thật rực rỡ, ánh sáng đó đưa mắt tôi đến khuôn viên lâu đài. Lâu đài được xây dựng từ lâu, bây giờ là viện bảo tàng lớn ở đây, còn xung quanh cây cỗi bao trùm tạo nên công viên tuyệt đẹp giữa thành phố. Hàng ngày chiếc xe điện màu đỏ vẫn chạy quanh quanh mang đến sự vui nhộn trong lòng cổ kính. Còn nhớ sáng thứ hai cuối cùng ở Karlsrule, lũ chúng tôi đã nằm ườn trên bãi cỏ, đợi tàu điện đi qua để tạo hiện trường án mạng mà bất thành. Nắng rải nhẹ nhàng sau một cơn mưa bất chợt khiến cỏ cũng phải rùng mình rũ nước cho kịp đón sinh viên tới… tắm nắng. Chúng tôi tắm nắng thư thái, đôi khi lại nhảy chơi bập bênh như những đứa trẻ, mà có khi trẻ con bây giờ cũng chẳng chơi mấy trò đó, nó chỉ còn dành cho lũ người lớn muốn được lại làm trẻ con.

Tối nay tôi ngủ ở nhà Leen cô bạn người Malaysia của Pierre, tôi có phần hơi lo lắng khi biết Saru không ưa cô ấy lắm. Nhưng quả thật tôi lại rất quý cô ấy. Leen kê ghế sofa sát vào tường tạo nên cái ổ ấm cúng cho tôi, đó là cái giường cực kì nhất mà tôi từng có. Và tôi đã ngủ mà không cựa mình cơ đấy.

Sớm mai khi nắng vàng ruộm nóc lâu đài, tôi rời cái ổ kén của mình đầy luyên tiếc. Cả lũ chúng tôi uống café ở một quán bánh ngọt. Tôi đã tự thưởng cho mình bánh bơ rất ngon kèm espresso. Cả lũ ăn uống và bàn bạc về kế hoạch những ngày dài phía trước. Chúng tôi quyết định đi Heidelberg thành phố lãng mạn. Đó là nơi cực xinh mà tôi sẽ kể cho bạn nghe sau bởi một ngày ở đó có biết bao điều để nói.

Chiều tà chúng tôi phóng xe tới Stuggart để đi picnic. Stuggart là một thành phố lớn, Pierre dự định tới đó để đi xem bảo tàng xe Porche nhưng lúc này bảo tàng đã đóng cửa nên chúng tôi chỉ đi dạo quanh khu trung tâm. Những con đường tràn ngập người đi mua sắm khiến tôi lo sợ lại lạc mất Pierre khi anh chàng than thở “Tôi cần mua một đôi giày mới”. Và tôi đã lạc mất Pierre. Nhưng tôi cũng chẳng bận tâm, bởi có Leen là dân bản xứ ở đây thì tôi chẳng cần thêm 1 tour guide làm gì. Và tôi biết chỉ một lúc sau là Pierre sẽ phải tìm tới chúng tôi thôi, khi mà cơn mệt mỏi của anh chàng đã kéo tới. Vơ vội mấy gói snack khoai tây và nước nho, chúng tôi lao ra bãi cỏ ven hồ ở trung tâm Stuggart. nằm dài ra phơi nắng, lười nhác như những con mèo. Leen trổ tài acoustic dạo nên những điệu nhạc quen thuộc.

“Doraemon” tôi xuýt nhảy lên vì gặp lại giai điệu bé thơ

“Chính xác” Leen vui vẻ ra mặt.

“Nữa đi” tôi hào hứng hơn bao giờ hết. Và Leen đã dạo lên những ca khúc từ những ngày xưa lắm “Stand by me” hay những bản nhạc của Vilvadi, thật tuyệt vì ngày trước cô nàng từng chơi kèn rất cừ.

Chúng tôi nằm dưới ánh mặt trời vùng Suddeustchland,  khoan khoái nhìn nắng trên từng khuôn mặt vui tươi của mọi người nơi đây. Lũ chúng tôi tranh nhau kem chống nắng và nhường nhau snack. Pierre đòi tôi nói tiếng Việt, Leen nói tiếng Trung Quốc để so sánh. Alex dạy tôi mấy câu chửi bậy tiếng Ý, còn Mati thì chửi thề tiếng Tây Ban Nha khi có đám mây sà đến che hết nắng của cô nàng. Tôi nằm ngủ trong làn gió dịu dàng thấy vui như trưa hè vì tôi biết quanh tôi mọi người cũng đang ngủ bình yên. Chưa bao giờ tôi đi nghỉ lại đúng nghĩa đến thế,

Đêm buông dần, xe chạy lại về Karlsrule, những giai điệu quen thuộc từ ipod của Pierre ập tới “Ironic” của Alain Morisette, cô bạn Mati nghêu ngao theo “traffic …jam…”, Pierre và Alex vẫn đọc bản đồ, Leen dựa đầu vào cửa kính, tôi chẳng biết cô ấy đang thức hay đang ngủ nữa. Tôi chỉ thấy nỗi buồn khôn tả dấy lên. Nhưng cuộc sống ơi, có bao giờ đẹp thế này chăng.

Phải xây nhà như Rotterdam

Con thỏ phục sinh láu cá đã ăn cắp quả trứng thời gian và chạy mất

Quay về nhà nghỉ ngơi vài ngày sau chuyến du hí Đông Âu, chỉ còn 1 tuần nữa là vào kì học mới, tôi lại thấy buồn chân và quyết phải lên đường lần nữa. Lần này tôi ra đi theo tiếng gọi  của đồng bào EM (hội được học bổng Eramus mundus cùng năm với tôi). Sau vài tháng bàn bạc, hội quyết định lấy Amsterdam làm nơi tụ quân sau ….. quán Hồng Hạc bên hồ Ngoại Thương mùa hè năm ngoái. Thật là tuyệt khi được đi chơi cùng người việt và nhất là đội quân nhí nhố EM, thế nên tôi lên đường ngay khi vừa hồi sức. Hành trình được vạch ra sẽ là Amsterdam, làng nhỏ Zaanse schans, vườn hoa Keukenhof và cuối cùng có thể là Rotterdam. Mặc dù đã ra sức rủ rê các chiến hữu thân yêu cùng đi, nhưng Alex bị đau đầu, Arnab bận làm luân văn, Ngân bận học, từ Bỉ, tôi ra đi một mình. Đúng là một dấu ấn lớn cho lần thứ 2 vượt biên, nhưng lần này ở đâu đó không có người đợi tôi.

Đang ngồi trên tàu từ Brussels qua Amsterdam, nhìn ra ngoài cửa sổ, bỗng tôi thấy biển ga rất lớn ghi Rotterdam. Sau vài giây lưỡng lự, tôi xách hành lý nhảy ngay xuống sân ga, chẳng cần biết liệu mình còn bắt được chuyến tàu khác tới Amsterdam không, chỉ cần biết tôi chuẩn bị được thấy biển. Nhắn tin ngay cho chị Giang (người cầm đầu vụ ăn chơi lần này của EM)

“Chị ơi, em xuống Rotterdam chơi đây :)”

“Ôi em ơi, thế là hỏng hết kế hoạch à?” chị Giang có vẻ thảng thốt.

Nhưng thờ ơ khi đi qua một thành phố đẹp, đó chắc chắn không phải tôi.

Phải xây nhà như Rotterdam

Cất  hết đống hành lý nặng nề vào gian để đồ ở nhà ga, máy ảnh đút túi quần, bình nước ở túi áo, vai đeo túi căng phồng một waffle đường, một chút chocolate, một quả táo, Mít đặc lên đường khám phá thành phố biển. Một ngày lơ ngơ ở thành phố lạ bắt đầu.

Tôi quyết định khi trời còn sáng thì nên chạm mặt làng cối xay gió cổ nhất Hà Lan – Kindedijk. Xe bus đến ngôi làng này một giờ mới có một chuyến, nên tôi ngồi chờ cổ dài như cò. Thêm gần một giờ trên xe bus để đi từ trung tâm Rotterdam tới làng, tôi gần như kiệt quệ, ỉu xìu như bánh đa ngâm nước. Nhưng khi xe bus rẽ vào một con đường nhỏ nơi khởi đầu của ngôi làng, tôi bừng tỉnh bởi  “Đây phải là ngôi làng dễ thương nhất thế giới

Những ngôi nhà mái ngói, tường gỗ màu sắc mở ra một thế giới Utopia. Những con kênh nhỏ bé uốn lượn chạy dọc theo con đường nhỏ, ôm lấy từng cây cầu gỗ xinh xắn. Bụi thuỷ tiên vàng rực rỡ kiêu hãnh trong nắng tháng tư, át cả vẻ mặn mà của những luống tulip. Bên những dòng kênh những cụ già đi xe đạp thong thả, đâu đó có người mẹ đẩy xe cho đứa con nhỏ, xa xa lại có ông bố đang dạy con chạy xe.  Một góc vườn nhỏ xíu hiện ra, xinh ơi là xinh, với những đứa bé dễ thương như thiên thần đang đùa nghịch lũ dê con. Thật ngạc nhiên là vua của cái khu vườn nhỏ bé đó là lạ một con bò sữa ngơ ngách. Tuy nhiên nó vẫn có vẻ quyền uy đầy mình khi đứng bên cạnh những bé thỏ và những bé dê cũng mũm mĩm như thỏ. Lũ trẻ con vui đùa với “trang trại” bình yên của chúng mà tưởng như mình là chủ một vương quốc dễ thương. Quanh các khu nhà, tulip đua tranh cùng cây xanh mát. Tách mình khỏi con đường cái, mỗi căn nhà đều có hàng rào tự nhiên tạo bởi những cây rất đặc biệt chỉ mọc ngang mà kết nối lại như một bức tường vững chãi. Ở châu Âu không thiếu gì những căn nhà xinh xắn với hoa tết trước cửa, không thiếu gì những mảnh đất bình yên tới câm lặng, nhưng khó có ở nơi đâu lại có sự hoà hợp tuyệt đẹp giữa con người và thiên nhiên tới vậy. Khu làng đẹp như một nơi du lịch bậc nhất nhưng con người sống ở đó cứ tự nhiên như cây cỏ. Tôi chỉ muốn rời xe bus để nhảy ngay vào thế giới Utopia ấy, nhưng ngó loanh quanh mà chẳng có bến đỗ xe bus quanh đó.

Xe bus chỉ dừng lại ngay trước làng Kinderdijk. Một mình một máy tôi theo dòng người ồ ạt vào ngôi làng cối xay gió. Làng này đã được UNISCO công nhận là di sản văn hoá thế giới bởi vẫn còn giữ được 19 cối xay gió lớn nhỏ. Hệ thống cối xay gió ở đây được sắp xếp trên một dọc chính, để từ xa mọi người cũng có thể thấy hết hàng cối xay gió khổng lồ. Đứng chơ vơ giữa những con nước, đợi gió lên và đón những chiếc thuyền du lịch ghé qua, cối xay gió ở đây cô đơn lạc lõng với thế giới hiện đại bên ngoài. Có khi chúng đợi chờ những chàng Donkihote tới thách đấu hơn là những kẻ bộ hành chán ngắt như tôi. Những kẻ chỉ biết xuýt xoa vẻ kì vĩ cối xay gió, nhẹ nhàng con nước, bát ngát những con gió đồng bát ngát, rồi ngủ quên bên những bãi lau mơ mộng. Cảnh ở đây đẹp tĩnh mặc, trầm u  đặc biệt vào một buổi chiều xám xịt và gió nhiều tới thế, tôi nghĩ tới ma cũng chẳng dám sống.

Ma đâu buồn sống ở ngôi làng “ngày xửa ngày xưa” ấy, mà phải hứng thú với mảnh đất lắm người như trung tâm Rotterdam. Trở vềnơi đây vào lúc 5h chiều, trời mùa xuân càng về tối càng sáng rực rỡ. Gió đã ngớt và mây đen cũng biến mất tăm mất tích tự lúc nào. Bầu trời nắng không le lói yếu ớt mà rực lên như cố rực cháy mình lần cuối. Tôi lưu luyến chẳng muốn rời đi vào thời điểm đẹp thế này, nên lại bắt đầu hành khất đi khắp hang cùng ngõ hẻm. Và dĩ nhiên nơi đầu tiên cần tới là hải cảng sầm uất thứ hai thế giới này.

Lâu lắm rồi, tôi lại mới về với biển. Nhưng lần này không phải là những bãi biển cát vàng náo động của xứ nhiệt đới, mà biển ánh bạc bát ngát tầm mắt những tàu chở hàng. Tôi hoảng hốt thấy mình lạc giữa bầy mòng biển đông nghịt trên bến cảng. Chỉ sợ chúng quây lấy mình và mổ thịt vì tội không cho chúng bánh mì, tôi lao vội lên cầu treo to nhất thành phố. Từ đó, tôi có thể nhìn thấy hòn đảo giữa dòng và phía bên kia thành phố. Tôi có thể thấy những toà nhà cao tầng hình thù kì dị, những quán hàng với thiết kế thú vị phá bỏ mọi nguyên tắc cân bằng cơ bản mà vẫn đứng hiên ngang giữa gió biển.

Gió từng cơn thổi tới niềm hân hoan quá đỗi trong tôi. Tôi lấy máy ảnh ra chớp lấy khung cảnh si mê. Từng tốp người đi xe đạp hàng dài trên cầu nhìn tôi cười thân thiện, thế mới biết không chỉ Amsterdam mà cả Hà Lan đều mê muội phương tiện đơn sơ này. Thấy tôi tội nghiệp loay hoay chụp ảnh “tự sướng” mà bất thành, một anh chàng Hà Lan tóc vàng đến gần.. xin giúp đỡ. Anh chàng có nụ cười mê mệt, không những chụp giúp tôi mà còn chỉ tôi cách tạo dáng, góc đứng để có thể tạo nên những bức ảnh để đời.

Sau khi rời bến càng, tôi lao ngay đi tìm những toà nhà lập phương kì dị gần đó Kubuswoning (Cubic house).  Nhớ trước đây, tôi với em trai hay sưu tập những quyển sách về những ngôi nhà kì lạ trên thế giới ,thật tuyệt khi hai trong số này nằm ở Rotterdam . Khi vừa nhìn vào guide book thấy bức hình Kubuswoning tôi đã biết mình phải đi tìm bằng được chúng.

Kubuswoning trông bên ngoài hết sức kì lạ, nhưng kì thực đó là khu chung cư mà bây giờ vẫn đông người ở. Được thiết kế bởi Piet Blom từ những năm 1984, đây đúng là một nơi lôi cuốn khách du lịch của Rotterdam. Những khối nhà đứng lên từ góc vuông trên những cây cột cao và có phần nghiêng về phía trước 45 độ. Nét vuông thành sắc cạnh khoẻ khoắn bên màu vàng rực rỡ của mặt tiền cùng mái xanh đẹp mắt, khiến cả khu nhà có cảm giác hình khối kì dị. Cảm giác không gian đa chiều cũng kéo tới theo mỗi bước chân tôi đi vào khu nhà. 38 khối hộp dính chặt với nhau kéo dài theo nhiều chiều, không đơn giản chỉ là ngang dọc, sự bố trí của khu nhà này hết sức khó hiểu, khiến tôi quanh mòng mòng. Ở một vài góc nhìn, những hộp nhà như những đầu rôbốt nhìn xuống tôi chằm chằm, thật rợn sống lưng. Với Piet Blom, mỗi căn nhà là một cái cây, cả khu nhà sẽ là một khu rừng kì quái nhưng đẹp ấn tượng. Khỏi phải nói tôi hết Ô lại A khi đi từ cạnh này của toà nhà tới góc kia của khu chung cư.

Toà nhà toạ lạc tại một nơi thần tiên của Rotterdam khi chiều xuống. Một bên toà nhà mặt nước đã chạy tới trú chân. Ngồi nhâm nhi một ly café ở đây, có thể nhìn thấy những cây cầu treo khổng lồ của thành phố. Mặt biển rung nhè nhẹ từng cơn sóng li ti, những chiếc thuyền buồm in rộng vai trên nền trời áng chiều vàng. Thực sự là một cảnh sắc mê hồn. Tôi đắm đuối nơi này quá mà không nỡ rời chân đi. Dù chỉ là khẽ nhích chân sang bên cạnh để ngắm một khu chung cư hình bút chì khổng lồ. Mã Lương mà thấy cây bút chì nâu đỏ này thì có lẽ cậu đã vẽ mây trên trời rồi. Nhưng tôi cũng không dám chắc là câụ bé ấy sẽ say mê cây bút chì này hơn hay thích la cà thư viện kì cà kì cục gần đó hơn.

Tôi gọi nó là Thư viện kì cà kì cục bởi tôi thường hay mang hình thư viện này ra đố mọi người, ai cũng nói rằng “Toà nhà này chắc là nhà máy nước”. Những lúc đó tôi mới thấm thía nỗi thất vọng của Hoàng tử bé khi nhận câu trả lời từ những người lớn “Đó là cái mũ” (Le petit prince). Sự thật đó chẳng là cái mũ mà là bức Trăn nuốt voi và đây cũng không phải là nhà máy nước mà là thư viện. Đơn giản bởi công trình được bao quanh bởi những đường ống khổng lồ màu vàng rực rỡ. Những đường ống không có chức năng gì ngoài “làm cảnh” nhưng là cảnh độc đáo vô cùng. Cùng với toà nhà Kubuswoning, thư viện này có mặt trong hàng ngũ những toà nhà kì quặc nhất thế giới.

Trời vẫn còn sáng, nhưng giờ đã muộn, dù muốn lang thang ở Rotterdam thêm một chút nữa để thăm thú những nhà thờ nơi đây, tôi vẫn phải cất bước tới thủ đô. Sau này nghĩ lại tôi thấy may, bởi nếu đi thăm các công trình mang tính cổ kính thì tôi sẽ mất ấn tượng về một Rotterdam hiện đại, phá cách. Bởi ngay cả nhà ga ở xứ này cũng đẹp lung linh, điển hình như nhà ga Blaak, nơi tôi lúi húi tìm đường để vào ga Rottterdam central. Trong lần khó khăn này, lại một anh chàng Hà Lan da lai cao lớn đến giúp đỡ tôi.

Tới bến ga trung tâm thì một đoàn tàu đi Ams vừa khởi hành, tôi ì ạch lôi đóng hành lý lên đường tàu đứng đợi. Bụng đói cồn cào và tàu còn hơn 10 phút nữa mới tới. Lo lắng không biết đó có phải là một chuyến khác từ Brussels qua không, để tôi còn sử dụng tiếp vé của mình. (Tội gì phải tốn tiền thêm cơ chứ), tôi uể oải quay sang hỏi anh chàng đầu xù tóc xoăn gần đấy. Anh chàng thân thiện ấy không chỉ trả lời mà còn lịch thiệp mời tôi thanh chocolate trong tay. Nhưng dĩ nhiên tôi thận trọng không ăn và hơn nữa tôi có chocolate tuyệt hảo của Bỉ rồi. Sau đó khi tàu tới,  anh chàng còn giúp tôi bê đồ lên. Ngồi trên tàu tới Amsterdam tôi cứ nghĩ mãi “sao lại có thành phố tuyệt đẹp mà con người lại dễ mến thế nhỉ”.

Sau này khi biết tôi đang chu du qua nhiều nơi, bạn bè tôi thường hỏi “Bạn thích thành phố nào nhất?”

“Cổ kính tôi thích Wien, nhưng hiện đại nhất định phải là Rotterdam, tôi yêu điên cuồng những ngôi nhà nơi đây”.