Không đời nào tự tử

(biết đâu truyện này có thật ở đâu đó)

Tôi có cô ban xinh đẹp tên Vy. Hôm qua chúng tôi quyết đinh cùng tự tử.

…………………….

Chúng tôi từng là bạn thân. Sau đó chúng tôi là bạn rất thân.

Năm 18 tuổi, tôi lên thủ đô trọ học, bạn cấp 3 của tôi trôi dạt khắp nơi trong mảnh đất chữ S. Tôi thực sự bơ vơ giữa cái chốn Kinh thành nhưng vẫn mê mệt thứ ánh sánh hào nhoáng của nó. Thưở ấy tôi nghĩ mình xơ xác như cỏ bên đường, cái cô đơn cố hữu của kẻ xa xứ, không bạn bè người thân. Tôi chôn mình trong khoảng trời 10m2 của căn trọ tồi tàn, khóc, cười một mình.

Tôi gặp Vy tình cờ trong một hàng giầy. Trong khi  loay hoay giữa việc chọn 1 đôi vans hồng hay 1 đôi xanh, tôi quyết định thử mỗi bên 1 chiếc. Trong gương soi tôi bắt gặp 1 cô gái cũng 1 vans hồng, 1 vans xanh. Nhưng cô ấy không phải là tôi. Sau 1 hồi cùng nhau suy xét, tôi ra về 1 bên xanh, bên hồng, cô ấy ra về 1 bên hồng bên xanh. Và chúng tôi thành bạn.

Vy là 1 cô nàng Hà nội chính gốc, phong cách, xinh đẹp, và thông minh. Cô nàng  tự nhận mình là 1 giai thoại sống được truyên miệng trong toàn giới Hà Thành, thế mà tôi không hay biết. Còn tôi, suy nghĩ đơn giản, sống thô kệch, kể cả bề ngoài. Vy giỏi nhiều thứ, nhưng không đam mê gì, tôi không giỏi điều gì, nhưng đam mê nhiều thứ. Chúng tôi đơn giản là chẳng giống nhau điểm nào. Thời đại này, có những kẻ mới nói vài câu là bạn biết không thể nói tiếp được. Nhưng chúng tôi có thể nói chuyện  với nhau hàng giờ, nên chúng tôi là bạn thân. Có thể tôi không nhớ ra nội dung câu chuyện gần đây nhất chúng tôi nói là gì, nhưng nếu gặp nhau bây giờ tôi có thể tiếp tục nói tiếp được.

…………………………………..

Năm đại học thứ 2, Vy có người yêu, cô bảo đó là một anh chàng bảnh trai dễ thương. Với trí tưởng tượng hẹp hòi, tôi nghĩ là họ rất hợp cạ và rất đẹp đôi. Đó là một tình yêu trong sáng nhất mà tôi từng thấy. Họ hẹn hò, họ đi chơi, họ đi ăn, nhưng không bao giờ nghĩ quá cái đầu đũa về tương lai. Vy bảo bố mẹ cô không bằng lòng anh chàng , vậy là cô  ấy bỏ nhà ra đi. Cương quyết hơn cả những cô gái cá tính nhất bởi  cô ấy còn bỏ học. Vy tới phòng trọ của tôi sống. Chúng tôi thành bạn thân.

Chúng tôi là những kẻ bạn cùng phòng tuyệt nhất, không bao giờ giận dỗi nhau. Tôi nói nửa lời, nửa lời còn lại Vy cướp trên miệng. Tôi chưa từng gặp anh chàng của Vy, tôi cũng chẳng tò mò về kẻ lạ đấy, tôi thấy vui vừa đủ để không bám theo đời sống riêng của bạn. Nhưng khi tôi có bạn trai thì Vy cương quyết hỏi cho bằng được.

Năm thứ 4 đại học, tôi vớt vát được một anh chàng, không hợp thời, cũng không lỗi mốt. Chúng tôi không đẹp đôi, chúng tôi hợp đôi. Chúng tôi xung khắc đánh lửa, nhưng đi chơi với anh ta cũng vui. Vy không thích anh chàng của tôi dù chưa từng gặp. Cô nàng cáu bẳn, khó chịu với mọi câu chuyện tôi kể về chàng. Thậm chí cô nàng giận dỗi, bỏ đi bất cứ khi nào Phong tới nhà. Tôi nghĩ chắc tại cô ấy bực mình bởi tôi có tình là khi cô nàng thất tình.

“Mày thấy gì hay ở Phong?” những ngày đầu Vy hay hỏi thế

Bởi Phong có đôi mắt buồn như dòng sông” tôi nói như thể mình là kẻ lãng mạn đầy mình

“Mùa cạn, nước khô thì sao”

Thì tao lên đỉnh núi cầu mưa”

“Nếu không có mưa, mà nó hoá sa mạc thì sao” Vy vẫn vặn vẹo

Thì tao vẫn cố tìm cái ốc đảo giữa sa mạc đấy” tôi cười. Ngớ ngẩn thật chúng tôi đang trò chuyện kiểu gì thế này.

“Nếu tìm không ra ốc đảo thì sao” Vy quyết không tha

Thì tao sẽ hoá xương rồng sống ở đây” tôi nói đầy quyết tâm

“Tuyệt vời, còn tao sẽ ép mày thành rượu Tequila để uống” Vy cười hục hặc, cô nàng không vui.

Tôi bước ra khỏi khoảng trời 10m2, cũng như khoảng trời của tôi và Vy lúc nào không hay. Tôi đi chơi với Phong ngày càng nhiều, tới nỗi có ngày tôi chẳng có thời gian nói chuyện với Vy. Những hoạt động chung của chúng tôi cứ thế phai dần. Vy giận tôi vì người yêu quên bạn, tôi chẳng quan tâm. Phong là kẻ trọ đầu tiên trong căn nhà trống trải trái tim tôi, tôi vui sướng như thể đó là giành được huy chương Olympic tình cảm. Bây giờ tôi đã có cái để khoe với lũ con gái hợm hĩnh ở lớp, không cho chúng nó có cơ hội xì xào vì sự cô độc của mình.

Ngày trước tôi và Vy có ước mơ giản dị. Chúng tôi muốn có một chiếc lều vải, để chui vào và nghĩ chúng tôi là kẻ đi khám phá thế giời mới, rồi lập 1 thế giới riêng. Chúng tôi mua một con lợn đất, cho nó ăn tiền bất cứ khi nào có thể. Gíâc mơ sắp thành thì tôi đập nát tan. Tôi giấu Vy, lấy tiền từ con lợn chung của hai đứa mua đồ diện đi sinh nhật Phong. Hôm nay Phong sẽ giới thiệu tôi với bạn bè cậu ấy, đó thật sự là ngày quá trọng đại. Tôi loay hoay trang điểm, váy áo, hồi hộp đợi Phong tới đón. Tôi đã có sự ra mắt tuyệt vời .

Tôi trở về nhà mang theo túi chiến thắng đựng đầy ánh mắt ghen tị, hâm mộ của tụi bạn Phong. Tôi biết mình sẽ chia cho Vy một chút. Vy không có ở nhà. Không tin nhắn, không lời từ biệt, chỉ đơn giản là biến mất. Con lợn đất nát như cám, tôi biết cô ấy đã biết chuyện. Tôi đợi 1 ngày, 2 ngày, rồi 1 tuần. Cô ấy không về. Tôi giận mình, giận bạn, lôi 2 chiếc giầy khập khiễng ra cắt, để chúng không bao giờ có thể thành một đôi. Tôi cắt tới tan nát, một tay sưng rộp, tay kia chảy máu.

Tôi vật vã khóc lóc, đau khổ cả những tháng ngày cuối của đời sinh viên. Tôi kiệt quệ hoàn toàn, không còn quan tâm tới thế giới xung quanh. Phong bỏ tôi đi vì nghĩ tôi hết quan tâm anh ta rồi. Tôi giật mình đã bao giờ tôi quan tâm anh ta chưa nhỉ. Tôi cho anh ta đi, không buồn nghĩ ngợi. Suy cho cùng anh ta chỉ là cái cúp đầu tiên tôi giành được, tôi chẳng thể chết chìm trong cái dòng sông ảo tưởng ấy mãi. Nước cạn rồi.

Tôi bắt đầu những ngày tháng tẻ nhạt không Vy, không Phong, không ai cả ở nơi phồn hoa. Tôi đi làm và bị cuốn vào vòng xoáy ấy lúc nào không hay. Tôi chán ghét cái công việc tầm thường nhàm chán của mình. Lão sếp bụng bự đầu hói ngớ ngẩn, mụ cấp trên hốc hách đàn áp tôi mọi lúc mọi nơi. Lũ đàn bà trong cơ quan xì xầm cái sự trẻ trung không sức sống của tôi, còn những gã đàn ông nhiều vợ lắm nhân tình thì tìm tới như của lạ. Tôi căm thù tất cả và trên hết tôi bơ vơ. Trong căn phỏng 10m2,  tôi  thường lôi cái nỗi buồn tự thưở nào ra gặm nhấm, có Vy trong cái miếng kí ức đấy, Phong thì không. Bạn bè là mãi mãi, người yêu là khoảnh khắc, và cái nào cũng là định mệnh. Tôi biết mình chẳng có cái gì trên cuộc đời này, tôi chẳng thiết nó. Tôi bế tắc một cách thực sự.

Đến lúc nào đó tôi chợt nhận ra, tôi chôn mình trong 4 bức tường tự thưở nào. 1 tuần, 2 tuần hay hơn thê nữa. Có lẽ cả thập kỉ rồi tôi chưa mở cửa phòng. Nhưng rồi ánh sáng tự tìm tới, cửa phòng mở, đột nhiên Vy xuất hiện, lại như từ không đâu. Tôi đã mơ thấy giờ phút này cả hàng ngàn lần, lần nào trong giấc mơ tôi cúng hét toáng lên “Cậu là đồ vong ơn, chỉ vì chút tiền ranh ấy mà cậu bỏ đi như con nít vậy sao”. Vậy mà tôi không nói câu nào, Vy thì ngồi vậy, khóc không thôi.

“Tôi yêu cậu” đó là câu đầu tiên Vy nói.

“Cậu tưởng nói vậy là tôi bỏ qua hả?” tôi gào lên, và bắt đâu hét lên tất cả những gì tôi đã tưởng tượng. Tất cả những gì tức bực trong tôi trút hết xuống, Vy ngồi không, im lặng như ngàn đời vẫn vậy.

Tôi yêu cậu và tôi trốn chạy” cô ấy nhấn mạnh từng từ.

Cái quái gì đang xảy ra thế này, tôi muốn hét lên, sao lại thế được, nhưng sự thật là tôi đã yên lặng như ngàn đời vẫn vậy.

“Tôi chạy trốn, tôi không tin mình lại yêu một cô gái”

Trời ơi, tôi muốn đổ sụp xuống. Cô ấy từng có người yêu cơ mà.

Nhưng tôi đã ra đi, tôi lấy chồng và có con rồi. Nhưng tôi vẫn không làm trái được bản ngã” cô ấy khóc ngày càng nhiều. Còn tôi đứng đấy nhìn và nhìn. Tôi biết nói gì nhỉ. Vy có chồng, có con rồi sao, trong khi tôi bơ vơ và nghĩ tới cô ấy nhiều hơn tôi tưởng.

Tôi chết lặng, trong lòng tôi đang khóc. Tôi đã đau khổ thế nào khi cô ấy bỏ đi, nhưng cái hạnh phúc khi cô ấy quay lại sao mặn đắng thế này. Đúng là tôi chưa từng nghĩ tới ai nhiều như thế. Đúng là tôi chưa từng hiểu ai nhiều như thế. Đúng là tôi chưa từng đau khổ vì ai nhiều như thế. Và đúng là tôi chưa từng cần ai nhiều như vậy. Có lẽ tôi cũng yêu Vy.

Tôi đứng chết lặng trước cái sự thật hiển nhiên này. Sự thật mà cả thế giới của tôi sẽ sụp đổ. Nhưng Vy là tất cả những gì tôi cần. Cô ấy thực ra chưa bao giờ rời tôi cả, cô ấy biết tất tần tật về tôi. Cô ấy biết về lão trưởng phòng ngu dốt, con mụ cấp trên hốc hách, hay những thằng cha ngớ ngẩn vẫn thường tán tỉnh tôi mỗi bữa trưa. Cô ấy biết hết, cô ấy biết tôi chán nản, căm ghét cuộc đời thị phi, quá ư bất công này. Cô ấy biết tôi chẳng có cái gì thuộc về mình. Nhưng tôi có thể vẫn có cô ấy.

Và thế chúng tôi quyết định tự tử.

Đêm nay trăng tròn tuyệt đẹp. Ánh sáng rọi trắng cây cầu bên sông soi bóng hai con người cô đơn tới cùng quẫn. Chúng tôi sẽ nhảy vì nhau, một cái kết tuyệt đẹp hơn bất cứ điều gì tôi từng tưởng tượng. Vy mỉm cười nhìn tôi, hiền tới lạ lùng.

“Chúng mình sẽ hạnh phúc” đó là lời cuối cùng tôi nói trước cái sự hun hút tới bất tận của dòng nước. Có cái gì đấy ầm ầm ù ù bủa vây tôi, có cái gì đấy chông chênh, chơi vơi cuốn lấy. Tôi không sợ khi Vy ở đó cạnh tôi như cô ấy vẫn làm vậy muôn đời. Tôi thèm khát được nhảy hơn cả nỗi thèm khát đô thị hay thèm khát ánh mặt ngưỡng mộ của người đời.

Bỗng tiếng chuông điện thoại của Vy vang lên

Nhóc à, mẹ đây” Vy dịu dàng. Cái dịu dàng ấy lan toả cả sang tôi. Tôi nhìn khuôn mặt cô ấy sáng ngời niềm hạnh phúc, không có gì bằng tình mẫu tử. Tôi nhớ ánh mặt cha tôi khi ông tiễn tôi lên đường. Rồi tớ nhớ mẹ tôi, mỗi lần bà ngồi nhìn tôi ăn ngon lành. Với họ, tôi chỉ mãi là đứa lên ba, tay nắm khung cửa sổ, chân thò ra ngoài đong đưa, mắt ướt nhẹm chờ họ đi làm vễ mỗi chiều. Tôi biết có cái gì đấy sống hơn cả sự sống của tôi.

Thôi mình về đi” tôi choàng vai Vy. Vy về với con của mình, tôi về với cha mẹ tôi. Chúng tôi vẫn có những gia đình. Vy ôm tôi lần cuối rồi cô ấy ra đi. Bản ngã không chiến thắng được tình mẫu tử. Và chúng tôi chia tay mãi mái, tôi biết thế.

Vy đi rồi, tôi trở về nhà trọ bơ vơ. Tôi lôi valy ra sắp xếp đồ về quê. Từ khi Vy đi, tôi chỉ ru rú ở nhà trọ này, tôi quên cả cha mẹ mình. Trong valy của tôi, đôi giày chiếc xanh chiếc hồng nằm cạnh nhau. Tôi hốt hoảng, tại sao chưa bao giờ mình đi cả 1 đôi vans màu hồng. Tôi tìm tới bạn bè, tới Phong, những kẻ sống trong xóm trọ, chưa ai từng gặp Vy. Tôi tìm tới bệnh viện, người ta nói tôi bị hoang tưởng. Vy không tồn tại. Tôi đã tự vẽ ra cho mình một người bạn tưởng tượng thật hơn những người thật. Một kẻ hiểu tôi, yêu tôi như chính tôi yêu bản thân mình.

Tôi đã  đi lạc trong cái trí tưởng tượng của sự cô đơn. Tôi cuống cuồng, lo lắng, tôi hoảng sợ, vật vã, tôi điên dại, gào thét. Anh bác sĩ điều trị đến bên, nắm vai tôi:

Đừng lo, cô sẽ được điều trị hoàn toàn”

Ơ mà này, cái anh bác sĩ điều trị ấy, anh ấy dễ thương hết sức. Không đời nào tôi tự tử.

MTN 12/2010

Những ngày ốm

Tôi đang trong những ngày ốm lịch sử của mình, 5 ngày trong 4 bức tường 3 bữa ăn 2 bữa thuốc 1 cái giường 0 có gì để nói nữa.

Những ngày ốm, tôi thường nằm dài ra ghế sofa, hoặc trên cái giường 1m2 của mình, ngửa mặt lên uống từng giọt nắng chảy dài từ ngoài ban công. Tôi kéo rèm che lên hết cỡ, để nắng cứ tự nhiên tràn vào, chiếu thẳng lên khuôn mặt có phần phúng nước của mình. Tôi nằm khoan khoái như con mèo trong đống chăn. Nhạc Beatles nhẹ nhàng, tôi dịu nhẹ đầu lên gối, cầm quyển Heidi lên, tôi  đọc đi đọc lại 1 trang hoài không xong.

Tôi nằm lơ mơ, đọc được vài trang, lại đặt sách xuống, thiêm thiếp ngủ. Những giấc ngủ nhẹ ban ngày bao giờ cũng sâu và dễ chịu. Tôi thường bừng tỉnh khi nắng vẫn còn vàng rực. Lại cầm Heidi lên đọc, vẫn nguyên trang cũ, vừa đọc vừa mộng mơ  những chuyện xa xôi. Có tiếng con chim yếu ớt rơi loãng vào khoảng không mênh mông những nắng và trời xanh. Tôi kê gối lên, ngồi dậy, cầm ống nhòm nhìn ra phía cửa sổ.

Bên ngoài cửa sổ, những cánh chim  đang chao nghiêng giữa hàng cây gân guốc bên dòng Dora sóng sánh. Chúng sải cánh liệng lên liệng xuống nhưng rồi chẳng biết bay về đâu. Tôi cầm ống nhòm theo dõi chúng đến khi mỏi tay mới thôi. Tôi coi đó như một trò rượt đuổi, mà xưa nay rượt đuổi không bao giờ lỗi mốt và hết hấp dẫn cả. Nhưng rồi tôi bị hấp dẫn bởi thứ khác: những khung cửa sổ rèm xanh dịu dàng. Những căn chung cư vàng nâu ủ dột sáng rực trong nắng càng làm nổi bật hơn  hết những rèm xanh mơ mộng của tôi. Tiếc là chẳng có anh chàng Ý đẹp trai lãng mạn nào bên những ô ban công đối diện để ống nhòm của tôi được mãn nhãn.

Gió thổi lên, tôi lại bị phân tâm bởi thảm lá cây xào xạc ven sông. Thật kì lạ, giữa mùa đông mà nắng vàng tới thế, trời xanh mướt và cao, mây trắng phủ nhẹ, thảm lá nâu ẩn mình, bãi cỏ tự nhiên xanh mởn, con đường không một bóng người, gió thổi hiu hiu. Mùa đông mà màu sắc thật rực rỡ, không ảm đạm như các xứ khác. Tôi tựa tay cửa sổ ngắm mãi vào chỗ không đâu. Khi nào mệt quá tôi lại lấy gối ra tựa vào lò sưởi, cảm giác ấm nóng lan tỏa lên lưng rồi lên mặt. Tôi sờ lên mặt mình, vẫn còn cái mơn mởn tuổi đôi mươi, nhưng tay tôi đã có những nét giống y chang tay mẹ. Xưa bé, tôi vẫn luôn chối những gì giống mẹ bởi “con gái giống cha giàu ba họ” và bố tôi vẫn thường vỗ đầu tôi và bảo “Nó là con bố, chẳng có gì giống mẹ mày hết”, tôi cười khoái trá. Nhưng càng lớn tôi càng giống mẹ như một lẽ thường, giống cả cái tính tất bật, cả cái tính lo lắng sợ sệt, rồi cả cái tính hoài nghi, ngày một ngày tôi nghĩ mình đang trở thành mẹ, nhưng mạnh mẽ hơn mẹ.

Tôi ngả đầu nhè nhẹ vào cái gối, lại chu kì mơ màng của mình. Và dĩ nhiên cứ sau mơ màng là lại hàng loạt câu hỏi về tương lai. Tôi chưa xác định được cái gì ở phía trước dù tôi tự tin từng bước chân mình. Tôi vuốt tóc mình, có cái gì dưới cái vỏ não này sẽ đảm bảo chắc rằng những điều tôi chọn sẽ luôn là sự lựa chọn đúng nhất. Đơn giản đâu có điều gì là chắc chắn, cũng không có điều gì thực sự tốt xấu, chỉ tùy vào cách nhìn nhận. Mỗi lần  được vuốt tóc, trong lòng tôi hay dấy lên sự xao xác khó tả.

Tôi nhớ cái vuốt tóc yêu thương ông dành cho bà khi bà mất. Khi ấy bà hỏi “Anh còn yêu em không?”, ông nhẹ nhàng “Anh yêu em lắm” rồi ông vuốt tóc bà, bà đã ra đi nhẹ nhàng như hơi thở. Tôi nhớ cái vuốt tóc bố dành cho tôi để khen ngợi. Lần nào ra máy bay, ông cũng xoa đầu và bảo “Con gái rượu của bố mà” và lần nào nghe xong tôi cũng òa khóc như mưa. Khi mà 10kg hành lý trên tay, 7kg trên lưng chưa đủ nặng, thì một lời nói, một cái vuốt tóc của bố cũng làm tôi gục ngã. Tôi vỡ òa, chỉ muốn nhỏ bé lại bên hiên nhà, và quên hết những chuyến ngao du tuổi trẻ. Sau này, lúc chia tay nhau ở bến xe khi rời nước Ý, em trai cũng hay xoa đầu tôi và nói “Sẽ sớm gặp lại mà”. “Để em ôm Nga béo một cái nào” và tôi lại khóc như mất đi một cái gì đó quí giá lắm. Mỗi lần được xoa đầu tôi đều có cảm giác bé bỏng được che chở, dù tôi đã đủ lớn để có thể cho kẻ khác dựa vào và thậm chí tôi cũng có thể tự xoa tóc mình cơ đấy.

Cái gối trượt dần xuống, hơi nóng từ lò sưởi phả ra nóng ran. Tôi quay đầu, trăng rằm tháng chạp đã lên tròn vành vạnh. Tôi nằm xuống, khẽ mơ màng về không khí tết, tôi không mơ về chợ hoa, về mâm cỗ, tôi mơ thấy cả nhà đang ngồi xem táo quân sáng mùng 1. Bao giờ mới lại có một cái tết như thế. Để đêm giao thừa tôi lại đi xem pháo hoa cùng bạn, lại sắp ngũ quả cùng bố, lại đi chùa cùng mẹ, lại dạo phố với em. Lại được ăn bát phở thơm phức ngày mùng 2 tết. Gía mà, giá mà có bát phở Hà Nội ngọt lựng ở đây bây giờ, có lẽ tôi đã khỏi ốm rồi. Thật đấy.

Tôn giáo bia và hội hè liên miên (P1)

Bia là tôn giáo

Đại loại thế này, có một ngày đẹp trời, một trong những cậu bạn tôi quen, để status trên facebook: “Perfect day: shopping in Amstelveen Center, and now drinking beer while watching MU vs. Arsenal!!!”,

Có 3 kẻ nhảy vào comment:

Kẻ đầu tiên là một cô gái:  “Thế hôm nay cậu đi mua được gì?”

Kẻ thứ hai là một chàng trai: “trận này hai đội đá chán quá”

Kẻ thứ ba là tôi : “Uống Amstel à?nhớ Hà Lan và bia”

Status có 3 thông tin và khán giả đánh đúng cả ba hướng, nhưng chỉ tôi tìm tới chất men. Không phải tôi nghiện ngập gì đâu đấy, chỉ là tôi cũng thích và chịu uống bia thôi. Tôi uống bia ở bất kì nơi nào tôi tới.

Phải thừa nhận sống ở Bỉ một năm và cái xứ bia ấy tôi luyện tôi nên người. Trong vòng 2 tuần đầu mới sang, tôi háo hức tới mức gần như mỗi ngày tôi được thưởng thức một loại bia, thậm chí tôi còn mang cái mong ước “thầm kín” là có thể uống hết các loại bia Bỉ cho anh chàng Arnab bạn tôi nghe. Anh chàng cười khoái trí: “Cậu phải uống mỗi ngày 1 loại thì mong rằng sau 1 năm có thể uống hết các loại bia Bỉ”, thế là tôi bỏ cuộc. Đúng là một sự lựa chọn khôn ngoan bởi tôi đâu ngờ thực tế ở Bỉ có tới khoảng 8700 loại bia,

Ở xứ Bỉ, bia được coi là một thứ tôn giáo và trung bình mỗi năm các tín đồ này uống khoảng 93 lít. Tôi còn nhớ như in hồi mới sang, tôi không khỏi ngỡ ngàng khi thấy sinh viên xứ này vác hàng két bia Jupiler đi giàn hàng ngoài đường khi đã khuya. Họ uống bia say sưa khắp đường vào lúc 12h đêm cũng không có công an tới hỏi thăm. Bởi đơn giản, ở Bỉ uống bia là nét văn hóa không thể thiếu. Sinh viên thường gia nhập những hội “phát cuồng vì bia”, họ đội mũ gắn sao trên đầu, dĩ nhiên khi level càng cao, sao sẽ càng nhiều. Họ uống bia trong bữa tiệc, uống bia trong quán bar, uống bia trong sàn nhảy, uống bia khi ngồi nghe guitaire ngất ngay ở “Lundi de la guitaire” hay thậm chí uống bia ngay trên đường phố.

Mấy anh bạn người Bỉ của tôi còn dõng dạc tuyên bố “Ngày bé chúng tôi uống bia thay sữa”.

“Vậy có lẽ chảy thứ trong huyết quản của dân Bỉ là bia chứ không phải máu” Tôi chọc lại. Có lẽ vì vậy mà các cậu bạn ấy hay rủ tôi ra quán.

Mùa đông cũng như mùa hè, các quán bia luôn đông đúc nhộn nhịp như các quán kem ở Ý vậy. Đặc biệt khi hè sang, bàn ghế được bày la liệt ngoài sân, người dân thỏa chí họng ngọt bia và vai ngọt nắng. Hè vừa rồi, những đêm trái bóng World cup hoành hành sân cỏ Nam Phi, bất chấp kì thi, cũng có một con nhóc quần cộc áo phông cắm mặt vào các quán bia hò hét không ngừng nghỉ. Chúng tôi hay tụ tập ở Brassie một quán bia xinh xắn nằm ngay Place L’Université là quảng trường trung tâm của thành phố để cổ vũ Mexico của anh bạn Alex. Trong khi đa phần người dân thành phố đổ ra Grand place ngả người trên những chiếc ghế dài dưới những cái ô màu sắc tay (bởi đơn giản đêm hè 10h trời vẫn sáng như ban ngày), cầm chắc nịch một chai bia mát lạnh và hò hét sung sướng khi những chú gà Gaulois bại trận. Năm nay “Qủy đỏ” Bỉ không được vào vòng chung kết nên niềm vui của dân Bỉ chính là sự thất bại thảm hại của kẻ hàng xóm đáng ghét. Tôi cũng không hiểu vì sao dân Pháp và dân Bỉ cùng chung một thứ ngôn ngữ lãng mạn mà lại thù ghét nhau vậy. Theo lời chị Vy có chồng là dân Bỉ thứ thiệt thì “dân Bỉ ghét dân Pháp bởi dân Pháp coi dân Bỉ là mọi”. Có lẽ họ ghét nhau, cũng như tôi ghét tụi Tàu vậy. Nhưng thôi, không bàn tới chuyện thù ghét, hãy bàn tới tình yêu với bia Bỉ thôi.

“Tình yêu” của tôi ấy à, nó bắt đầu từ đêm thứ 3 tôi ở Bỉ. Đêm đó anh Greg và chị Hiền dẫn tôi tới một quán bia tuyệt vời, quán này cũng là nơi tôi uống mừng sinh nhật 24 của mình, nên khó có thể quên nổi. Trời hè mát mẻ, chúng tôi ngồi ngoài quảng trường tận hưởng làn gió hiu hiu thổi qua đầu lưỡi vị ngọt ngào của Kriek làm từ quả frambois (quả mâm xôi). Gọi là bia nhưng chẳng phải bia, Kriek như thứ nước quả lên men hơi quá, nhè nhẹ, ngòn ngọt, chua chua, tôi không khoái chút nào. Vậy nhưng trong những bữa tiệc của làng Louvain chúng tôi, Kriek lúc nào cũng được diễm phúc mua cả két, để phục vụ các chị em phụ nữ. Riêng tôi được các anh gọi là “thanh niên Mai Thanh Nga” nên hay được ưu ái cho uống bia nặng đô hơn chút. Thường là thứ bia học sinh sinh viên Jupiler, được ưa chuộng bởi cũng không quá tồi lại hợp túi tiền. Nếu là anh Dũng Kiều thì anh sẽ cho tôi uống bia trắng, còn nếu anh Hòa thì có thể dúi cho tôi chai Leffe. Nói chung các anh làng Louvain toàn là những người sành bia tuyệt hảo, chứ không như tôi chỉ biết uống là uống.

Còn về cái sự tích vì sao tôi được gọi là “Thanh niên”, đơn giản như đan rổ, vì có lần tôi sực nguyên 5 chai Stella Artois tại quê hương loại bia này – Leuven. Trong giải bóng đá sinh viên Bỉ, đội bóng làng có chuyến công du tới Leuven, tôi cũng đi theo trong ban cổ vũ. Đội bóng chúng tôi vô địch nên dĩ nhiên ăn mừng là không tránh khỏi. Cái thủa ấy tôi còn chưa biết thưởng bia là gì, với lại Stella Artois cũng là loại phổ cập, nhẹ hều, ngon hơn Jupiler chút đỉnh, nên tôi làm 1 lèo 5 chai 100% với mọi người theo đúng phong cách “gái bách khoa, hoa chuyên toán”. Thế là cái tên “Thanh niên Mai Thanh Nga” được giật tít trên hòm mail chung của làng ngay sáng ngày hôm sau và nó còn theo tôi tới tất cả các bữa tiệc sau này. Thậm chí tin đó còn được truyền về tới tận tai mẹ tôi, làm tôi điêu đứng hình ảnh đứa con ngoan.

Nhưng không thể trách Stella Artois được, tôi cũng có duyên với Stella Artois lắm lắm bởi cô bạn thân Ngân của tôi sống ở quê hương của nó. Có lần sang chơi, tôi nằng nặc đòi Ngân dẫn tới hàng bia nổi tiếng ở đây là Domus. Báo hại cô nàng dò khắp hang cùng ngõ hẻm mới ra, để dắt tôi và chị Dương vào thử. Domus có ngoài tầng chính còn có thêm một tầng hấm và tầng hai vừa là nơi cho thực khách thưởng bia vừa là nhà hàng luôn. Kế bên đó còn có nguyên một khu chuyên sản xuất bia mà phải đặt lịch chúng tôi mới được vào tham quan. Tôi thích cách trang trí cổ điển ở Domus, chỉ nhìn cách bài trí quán bar, bàn ghế thôi là cũng đủ thấy bia ở đây ngon rồi. Huống chi ở Domus, bia home-made lại thơm nức mũi. Tôi sà vào thử ngay Cristal, chị Dương thử một loại bia trái cây giống Kriek còn Ngân thử món bơ quện rượu béo ngậy. Cristal trong veo, nhẹ nhàng, không thực sự đặc biệt nhưng món bơ thì khó quên. Cả ba chúng tôi đều ngất ngây hài lòng, không bõ công tìm quán cả buổi. Chỉ có điều nếu có anh người Việt nào nhìn thấy thì chúng tôi sẽ bị đánh giá ngay và có nguy cơ không lấy được chồng, biết đâu đấy.

Do vậy đi uống bia chủ yếu tôi đi cùng tụi bạn “lẩu thập cẩm” của mình. Tối thứ 6 hàng tuần, Arnab cậu bạn thân người Ấn Độ của tôi thường nhắn tin rủ cả lũ đi uống bia để chia tay 1 tuần học vất vả. Quán bia ruột của tụi MERIT chúng tôi là Jazzaia, một quán bia nằm trong con đường nhỏ lúc nào cũng đông nghịt người và khói thuốc. Chúng tôi hay leo lên tầng hai nơi có những chiếc ghế sofa to bự để ngả người khoan khoái thưởng bia và lắc lư theo những điệu nhạc jazz. Tôi hay gọi cho mình một ly Leffe brune (bia nâu) với vỏ ngoài bắt mắt, khoảng 6 độ, độ men vừa phải mà có vị hơi đắng lạ miệng. Chengsui cậu bạn người Trung Quốc cũng hay theo tôi, nhưng cậu ta uống Leffe blonde từng giọt vàng sóng sánh, nồng độ nhẹ hơn một chút và vị cũng dễ chịu. Alex thì  thích Duvel với vỏ chai lùn xỉn xấu xí, nhìn khá thô ráp giống y anh chàng này. Duvel chứa thứ chất lỏng nâu nhẹ, vị nồng, và dĩ nhiên là nặng đô, khoảng 8 độ, dễ làm lòng người say đắm. Cô nàng Mirea dân Tây Ban Nha chịu chơi cũng hay uống Duvel, đôi khi cô ấy uống Leffe với tôi, nhưng cô ấy thích tu chai hơn là uống từ cốc. Có lần cô ấy say liêu xiêu và ngông cuồng muốn đọ sức uống với anh bạn-lúc-chưa-là-bạn trai Arnab. Tôi vốn khoái xem cá độ nhưng khi nghe hình phạt là nếu thua là cô ấy sẽ phải hôn…… tôi, tôi sợ xanh mắt, liền ra tay ngăn cản. Cô ấy dám liều mình thế vì nghĩ Arnab uống loại bia mạnh hơn, dễ xỉn trước. Đơn giản là anh chàng thường thích uống Grimbergen blonde, chai bia lùn mà rất phong độ với thiết kế bìa đẹp mắt và vị cũng không chê vào đâu được. Grimbergen tương đối nặng, chừng 7, 8 độ, thơm ngon tuyệt đối, nhưng không hiểu sao tình yêu với Leffe làm tôi khó dám phản bội nó.

Nhưng cũng đôi lần tôi phản bội “tình yêu” của mình, với Guiness một loại bia đen của xứ sương mù với vị đắng chát. Vị bia này cũng khá hay, rất đáng thử. Thú vị là chính nhà máy bia Guiness này là kẻ đã khởi xướng nên kỉ lục Guiness, theo như tôi đọc được từ cuốn sách trẻ thơ “Biết tất tần tật chuyện trong thiên hạ”. Thông thường ở quán bia Bỉ ít thấy Guiness, tôi chỉ có cơ hội làm quen với “anh chàng” khi lũ chúng tôi vào quán rất Ăng lê – Cambridge để làm chầu hai sau khi đã no nê Chimay từ bữa tiệc tất niên. Thực ra tôi gọi Guiness theo sự gợi ý của cậu bạn Nepal ,Amit – đó là kẻ mà tôi vẫn thường nói “genius but annoying” nhưng tối đó anh chàng không hể khó chịu tẹo nào. Khi nhấp tới Guiness ,cậu ta có vẻ xỉn, kể hết chuyện tình của mình lại bắt những kẻ khác kể theo. Chengsui với mối tình ngốc nghếch những năm cấp 2, Alex với mối tính éo le năm đại học, Amit với hành trình chinh phục hoa hậu Nepal, còn tôi ư, tôi ngồi nghe nhiệt tình, uống nhiệt tình, hết Guiniess lại sang Corona – một loại bia phổ biến của Mexico. Do Alex sau khi kể chuyện tình, cậu ta đâm ra nhớ quê hương nên gọi Corona. Corona nhìn rất tinh tế và ngon mắt với vỏ chai trong suốt lộ màu bia vàng óng ánh kèm theo lát chanh trên miệng chai. Tôi cũng bắt chước Alex uống Corona vắt chanh đúng điệu Mexico. Vị chua của chanh hòa quện cùng vị đắng ngắt của Corona đem lại vị ngọt mát, đúng là rất hợp cạ. Sau này, khi đi vài thành phố xa lạ mà băn khoăn không biết gọi gì, tôi hay gọi Corona như một thói quen.

Có lần khác, tôi phản bội em Leffle của mình khi tới Brasse temps – đây là quán bia tươi duy nhất ở Louvain la neuve. Brasse temps nằm cheo leo trên tầng 2 nhìn ra Rue de Wallons ngoằn nghèo. Quán được trang trí những hình yêu tinh cây vui mắt cùng những thùng nhôm bia to bự để quáng bá cho thứ bia tươi hảo hạng ở đây. Lần đầu tôi tới Brasse temps, tôi đã thử ngay loại Bush đặc biệt, uống 1 lúc liền 4 ly, mỗi ly một độ từ 3 độ, 5 độ, 8 độ, 10 độ, kiểu uống này rất dễ ngấm, mang tới một cảm giấc lâng lâng thích thú. Nhưng sau lần chịu chơi đó ,tôi không lần nào dám bén tới giới cao cấp ấy nữa, chỉ dám nhâm nhi những cốc Bush tươi mát 5 độ phổ cập, ngon và mát, uống tới đâu biết tới đó. Ở Brasse Temps, đặc sản là chai Bush 11 độ, cái chai quái chiêu đó thường khiêu chiến mắt tôi, nhưng tôi tự biết mình biết ta nên không bao giờ phạm thượng. Hãy cứ tự thương mình với chai Leffle brune là đủ rồi.

Thật tuyệt khi rót những dòng bia nâu óng xuống chiếc ly bự rồi từ từ nhấp từng ngụm bia mát lạnh, đắng miệng nhưng ngọt họng. Kiểu thưởng bia này tôi rất khoái, uống bia trong không khí tràn ngập nhạc, lại hơi có chút khói thuốc bạc màu.  Không như ở nhà mỗi khi đi uống bia thường kèm theo bao nhiêu đồ nhậu làm loãng hết vị bia, đã thế cái kiểu “dzô dzô” xô bồ náo nhiệt và cụng ly 100% tanh tách làm tôi vui phát sợ. Dân tình không phải đi uống bia vì muốn thưởng bia, mà chỉ để bạn bè “giết” nhau, đối tác kí hợp đồng, để cho câu chuyện thêm xôm, hay đơn giản nhất là để giải sầu. Nhưng như thế thì vừa hao bia và hỏng gan. Vô tình như vậy, nếu tôi nói “tôi thích uống bia” thì sẽ bị quy là bợm nhậu theo chiều hướng “cô gái này hỏng hẳn rồi”, còn nếu tôi nói “tôi thích uống cafe” thì sẽ được nghĩ là “cô ấy thật sâu sắc đa cảm”. Không hiểu tới bao giờ thì người ta mới có khái niệm đi uống bia cũng nhẹ nhàng và thanh cảnh như đi uống café, đơn giản là nhâm nhi và thưởng thức. Qủa là oan uổng cho “anh chàng bia” và oan cho cả những ai muốn thưởng bia.

(Còn tiếp)

(Kỉ niệm những ngày nhớ Bỉ)

Tôi có hẹn với Gaudi

Những ngày đầu tháng 10, trời trong veo và nắng Địa Trung Hải ngập tràn Torino, vừa thi xong môn tiếng Ý cấp tốc, được nghỉ 1 tuần trước khi vào năm học, tôi khẩn cấp lên đường đi tới cuộc hẹn. Tôi có hẹn với Gaudi và Alex. Gaudi, tôi từng thích ông ấy điên cuồng, bây giờ cũng vậy. Còn Alex, cậu ấy là bạn thân nhất ở Bỉ của tôi, và bây giờ cũng vậy.

Alex tới ga đón tôi sau hành trình dài hơi. Cậu bạn vô tư của tôi bây giờ râu tóc dài ngoằng, luộm thuộm hết sức. Tôi biết nếu tôi rơi vào hoàn cảnh như cậu ấy tôi sẽ còn trông tệ hại hơn. Cậu ấy vừa để mất học bổng EM, chỉ vì năm đầu tiên cậu ấy không thoát khỏi cái địa ngục UCL, cậu ấy đạt được 47 trình trong khi 48 trình là có thể vượt vũ môn. Cậu ấy đã chết trước cửa thiên đường, tôi biết vậy. Và  tôi tới đây, để gặp, để chào cậu ấy lần cuối.

Chúng tôi chào đón nhau theo đúng kiểu những người bạn lâu ngày gặp gỡ. Không thể để nỗi buồn lan toả làm hỏng chuyến đi chơi cuối , tôi đòi cậu ấy dẫn đi tham quan ngay lập tức.

Barcelona, bờ biển dài và những cô gái nóng bỏng. Chắc hẳn rồi, vậy là dọc theo con đường dài những tượng người nhộn nhịp, chúng tôi tới hải cảng. Tôi đã bị trộm viếng thăm nhưng tóm kịp nên tôi coi đó là điềm của một ngày may mắn cực kì. Hải cảng nhộn nhịp chen chúc tàu bè, người và hải âu. Thật tuyệt khi tới với không khí biển, lúc nào cũng tràn ngập nắng, gió và niềm vui. Những cô gái xinh đẹp rực rỡ, những em bé tóc xoăn dễ thương và những anh chàng Catalyan rám nắng cực kì.

Bên chiếc cầu xoay, những cánh buồm trắng nhấp nhô, những cruise sang trọng đua nhau show hàng, hải âu tung tăng, hoà cùng sự hồ hởi của dân chúng nơi đây, đón chào màn air show trên nền trời hè nắng cao. Đấy tôi đã bảo là tôi sẽ có ngày may mắn cực kì mà. Có lẽ Gaudi cũng phải mỉm cười trước sự may mắn của tôi. Tôi tới Barcelona đúng đợt kỉ niệm 150 năm không quân nên được dịp ồ à cùng màn không lượn tuyệt vời của nhóm máy bay nghệ thuật. Máy bay nhào lộn, vẽ nên những hình ảnh sặc sỡ trên nền trời và thú vị nhất là hình trái tim bị mũi tên xuyên thủng. Phật, xoẹt, tim tôi cũng bị xuyên thủng rồi, Barcelona ơi, tôi yêu quá đỗi. Tôi nằm dài ra cùng lũ trẻ, gậm nhấm cái hamburger của mình, ngắm những hình ảnh vụt qua, mọi thứ xung quanh náo động mà bình yên.

“Này tôi sẽ đưa cậu tới một nơi tuyệt vời, nơi yêu thích nhất của tôi ở Barcelona” Alex hớn hở phá tan sự mơ hồ, có phần hiu hiu ngủ của tôi. Vậy là chúng tôi bật dậy và đi tới công viên tự nhiên bự nhất Barcelona – Parc de la Ciutadella. Tôi có phần hồ nghi, không hiểu ở công viên thì có gì thú vị cơ chứ.

“Nếu mà tôi có thể vác được cái đài phun nước này về thành phố của mình thì tuyệt” Alex hồ hởi chỉ cho tôi đài phun nước cực lớn nằm ở trung trâm của công viên.

“Cậu tham vừa thôi, tôi thấy chỉ cần ngắm nhìn nó là đủ sung sướng rồi.” Bởi nó quá đẹp, quá hùng vĩ, và nó 1 phần của Gaudi, Thật oan uổng khi không ai xướng tên nó lên trong những công trình của ông, giống như một người đẹp bị lãng quên. Tôi gọi đó là Người đẹp ngủ trong rừng, và có tôi đây, tôi tới để giải thoát cho em, mang em tới cho nhân loại chiêm ngưỡng.

Đài phun nước đồ sộ với dãy bậc thang kéo dài lên mang theo cảm giác những lâu đài một thời. Những cây cọ mọc ngược xuôi, làm nổi lên những bức tượng trắng tinh  hình rồng có cánh ở ven và tượng các vị thần tiên giữa hồ nước. Từ trên tầng hai của đài phun nước nhìn xuống làn nước trong veo xanh lục lại càng say đắm . Từ đâu nữ thần chiến thắng rong cỗ xe ngựa màu vàng về tọa trên chóp mái mang hào quang cho cả vùng trời. Vào những tối thứ 7 ở đây thường có màn biểu diễn nhạc nước sôi động, hấp dẫn, chắc chắn không thể bỏ qua, nhưng tiếc là tôi lại vô duyên quá nên không tới đúng thời điểm. Mà chúng tôi cũng không thể đợi được, dù Alex có ý ở lại đó mãi mãi, nhưng tôi vội kéo cậu chàng đi tới Sagrada Famillia.

Nhà thờ tổ mối là một trong những kiệt tác của Gaudi. Nhưng quả thật chưa bao giờ tôi để ý thấy cây thông nhỏ xíu ở phía trước nhà thờ cùng những thiên thần cánh trắng. Một hạnh phúc hoàn hảo đối nghịch với cái đau thương tang tóc của những con người và vị thần leo lắt trên mái vòm. Có lẽ Gaudi sợ làm đau thánh thần trên cao, ông cho bao các tháp nhọn bởi những hình thù hoa quả kì dị. Tôi ngồi nghĩ mãi chẳng hiểu sao cái mâm ngũ quả kia lại được chệm trễ quá sức lạc lõng với màu nâu u ám phía dưới. Có Chúa mới biết được bộ óc thiên tài ấy nghĩ gì. Tôi nhớ đã không biết bao lần tôi ngồi ngắm nhìn bức hình nhà thờ vĩ đãi này trên bìa quyển sách yêu thích “Kiến trúc sư Gaudi”, và hôm nay ước mơ đó thành sự thật, thật tới ngỡ ngàng. Lần này thì tới phiên Alex lôi tôi đi, cậu ta đói meo rồi.

Chúng tôi quyết định thử món Pallea truyền thống, là một món cơm hải sản vàng ươm. Alex không ăn hải sản, nên chúng tôi gọi loại đặc biệt có cả thịt gà kèm. Tôi cho cậu ta hết thịt gà, cậu ta cho tôi hết mousse. Tôi ăn ngon lành cả nồi đầy, hoàn toàn mệt mỏi cho cái kế hoạch giảm cân. Vác cái bụng to bự, chúng tôi lết về căn hộ của Chengsui, anh bạn người tàu học cùng tôi và Alex. Alex từ ngày mất học bổng, cậu ấy cũng vô gia cư phải tới đây sống tạm trong phòng khách. Còn tôi, tôi may mắn khỏi nói, bởi tôi có một chiếc giường xinh xắn tuyệt đối trong phòng cô bạn người Iran có tên Paratus. Trong tiếng Iran, Paratus có nghĩa là chim én và tôi thấy mùa xuân trên  nụ cười xinh đẹp, hiền lành của chị ấy. Tối đó, tôi gặp những MERIT khác, họ cũng vui tươi, hăm hở, lo lắng như tôi năm đầu. Tôi ngồi nói trời đất như thể mình là chuyên gia. Chúng tôi uống Sangria và chips. Chúng tôi cười và nói về những chuyến đi đang vẫy gọi. Tôi thấy mình trong họ. Cuộc sống là thế.

Sớm mai tỉnh dậy, ra ban công, tôi thấy bình minh về trên thánh địa Camp nou, vậy là tôi vồn vã tới đấy khi áng trời còn hồng rực. Tôi thích Barca còn Alex có lẽ là 1 culé điên cuồng , có lần cậu ấy hỏi:

“Đoán xem năm nay tôi tự mua gì tặng sinh nhật mình”

“Vé vào xem Barca thi đấu”

“Cậu hiểu tôi quá rồi” Alex vui như chưa từng như thế.

Dằn lòng mua vé vào cửa với giá 19e, tôi lượn hết các tầng trong Camp Nou để ồ à trước đống cúp danh giá của câu lạc bộ này. Những Thery Henry, Ronaldino, Trevis, Messi ,ở khắp nơi, kẻ cười người khóc, nhưng họ thật rạng rỡ, tôi giật mình “có những kẻ sinh ra trong vinh quang, nhưng có những kẻ chết đi không có gì”, kẻ đó là tôi sao? Tôi lẫn lộn giữa những xúc cảm sung sướng, buồn tủi, tự hào, tự ti cho tới khi chạm mắt tới mặt cỏ Camp Nou. Tôi ước mình được chạy trên đó thì thật tuyệt, nhưng không, họ chỉ cho tôi đứng trên khán đài mà ngắm dòng chữ “ Mes que un club” – Barcelona không chỉ là một đội bóng, có lẽ họ là cả một đế chế.

Alex có vẻ đã toại nguyện, cậu ấy dường như muốn ngừng, tôi thì vẫn đi không ngớt, tôi bảo “Tôi tới đây vì Gaudi và tôi sẽ không ra đi khi không xem hết các ngôi nhà của ông”,

“Ừ thì đi, dù sao bây giờ tôi cũng là lữ hành ở Barcelona, ở trọ, và sắp phải về nhà” Alex chua chat nói. Vậy là chúng tôi tới Parc Guell, nơi có con thằn lằn gốm nổi tiếng.

Công trình trứ danh này được Gaudi xây dựng từ năm 1900 tới 1914 theo yêu cầu của Eusebi Guell, và chính tên ông sau này được đặt cho công viên này. Công viên nằm trên địa thế cao nên tôi leo toát mồ hôi mới tới. Thật không thể nói hết nỗi vui mừng khi nhìn thấy nó, khi thấy cổng chào, cùng 2 ngọn tháp xinh đẹp. Dãy cầu thang dài chạy dọc theo hai bên kéo dài những bức tường gốm hai màu xanh trắng với có những chúp tua tủa lên trời, y chang bộ xương khủng long khổng lồ, khiến tôi vô cùng thích thú. Đặc biệt nhất là con thằn lằn mosaic đầy màu sắc tọa chệm trễ ngay  nơi giao hai dãy cầu thang. Ai tới đây cũng phải ôm chầm lấy con thằn lằn này để biết chắc là mình đã tới Parc Guell. Từ chỗ thằn lằn đi lên một chút là không gian vô cùng rộng với những hàng cột đất sét chen chúc như những cánh tay nâng nền tầng 2 của công viên.

Tầng 2 của công viên là khoảng sân rộng, nơi ngày xưa dùng để họp chợ, nhưng giờ chỉ có cát bụi cuộn lên theo từng cơn gió, làm tôi nhớ say đắm cái không khi nhộn nhịp người ngựa của bản nhạc Phiên chợ Ba Tư. Ừ nhỉ, biết đâu xưa đây cũng vậy.

“”Này tôi có thể thấy biển” Alex gọi tôi lại bên hang ghế mosaic đẹp kì diệu, như đường viền trang trí của khoảng sân. Dãy ghê này được tạo theo dáng của con rắn biển, với những họa tiết độc đáo xen kẽ những họa tiết Catalan truyền thống. Có người bảo khi xây dựng dãy ghế này, Gaudi đã yêu cầu những người thợ khỏa thân ngồi trên đất sét ướt để lấy lại dấu mông họ làm viền ghế. Có lẽ vì thế mà tôi cảm thấy vô cùng thoải mái khi ngồi ở đây. Người xung quanh vẫn cứ qua lại, tôi nhắm mắt, cảm nhận thế giới riêng của mình, gió thổi trên mặt, tay chạm những hàng họa tiết mosaic mát rượi. Ngày hè không hể oi ả.  Khi mở mắt ra, tôi thấy Alex ngồi thừ người . Tôi biết hơn ai hết cậu ấy tiếc vô cùng cảnh đẹp ấy, khoảnh khắc này.

Để thực hiện hết các giấc mơ, tôi vội vã dời Parc Guell để tới với những ngôi nhà khác của Gaudi. Tôi nhảy chân sáo tới Casa Mila. Đây là tòa nhà với bề ngoài dường như được cắt gọt rất ngọt. Trên nóc tòa nhà là những bức tượng với những khuôn mặt kì lạ. Tôi đoán là Gaudi đã mang những bức tượng ở đảo phục sinh về, đeo mặt nạ sắt cho nó, rồi đắp đất sét bên ngoài, Ai mà biết được, chỉ biết tôi thích những bức tượng này vô cùng.

 

Vẫn trên trục đường này, chỉ cần đi lên 1 chút, phía bên kia đường, hoàng loạt nhà cộp mác Gaudi hiện lên khiến bạn phải sững sờ. Đừng ngạc nhiên nếu Gaudi làm bạn phải bật khóc vì vẻ đẹp hoàn mĩ của những casa ở đây. Casa Battlo là một ví dụ tuyệt vời.  Tòa nhà với lớp vỏ ngoài xù xì và mái ngói rực rỡ những màu sắc mà tuyệt nhiên bạn không thể phân biệt được đó là màu gì. Sự pha màu khéo léo giữa hồng, xanh da trời, nhũ khiến ngôi nhà nhìn như da một con kì lân hoặc rắn chúa.

“Tôi yêu Gaudi chết mất” tôi quay sang Alex. Cậu ta cười như thể “tôi biết mà, giống như tôi yêu  đội bóng Barca”. Tôi còn muốn đi nữa, đi xem hết công trình của Gaudi và đi ra biển. Nhưng ngày mai Alex phải bay về Bỉ lấy đồ sớm nên chúng tôi đi về.

Tôi về nhà đói meo, trong khi Chengsui đang hì hục nấu cho bữa tối, cậu ta không thèm mời tôi, dù tôi vừa tặng cậu ta cả bịch chocolate tươi lạnh, tôi biết tụi Trung Quốc mà. Paratus thì khác hẳn, chị ấy nằng nặc không chịu nhận hộp chocolate, còn nấu cho tôi món cơm thịt bò băm ngon tuyệt. Chúng tôi ngồi nhâm nhi và ôn lại kỉ niệm, mặc dù cậu chàng Trung Quốc đâu có kỉ niệm gì với chúng tôi. Lại 1 đêm nữa tôi đi ngủ với cái bụng ì ạch và nơm nớp lo sáng mai tỉnh dậy không thấy Alex nữa.

Sáng sớm trở dậy, tôi đã không thấy cậu ấy thật. Tôi vội vã bước ra ban công, cậu ấy ở đó mặt buồn như lúc nào cũng vậy. Chúng tôi ngắm bình minh thu của ngày cuối cùng.

View ở đây đẹp thật”

Ừ, tôi nghĩ nếu tôi được học ở đây năm nhất, chắc chắn tôi đã khá hơn, tôi cảm thấy vô cùng thoải mái khi ở đây” Alex buồn bã

“Không sao, dù sao bọn mình cũng đã rất vui ở Bỉ, đừng bi quan thế” nhưng thực ra trong lòng tôi muốn thét lên, sao cậu lại có thể sai lầm để mà bỏ lỡ tất cả.

“Ừ, nhưng dù sao tôi cũng tiếc, khi đã bỏ qua cơ hội tuyệt vời như MERIT”

Tôi không nói gì, vỗ vai cậu ta, tôi muốn nói nhiều lắm, hơn cả những gì tôi có thể nghĩ, Cậu là bạn thân nhất của tôi cơ mà.

Alex tạm biệt tôi “Cảm ơn vì tất cả, cố lên nhé, cậu rất khá, đừng để ai làm cậu lung lạc”, tôi cười, tôi chúc cậu ấy lên đường may mắn và hẹn gặp lại. Thế thôi.

Gaudi dường như không thể níu chân tôi nữa rồi. Tôi kéo lê đống hành lý ra bến xe rồi một mình ra biển. Biển Barcelona không đẹp nhưng sóng mạnh và cát vàng. Tôi ngồi trên bờ, nhìn những đứa trẻ đang đùa nghịch. Tôi luôn ước tới Barcelona nhưng không phải để tận hưởng những giây phút buồn thế này. Tôi ngồi khóc một chút. Lời ước hẹn của tôi và Gaudi đã thành sự thật, nhưng lời hẹn của tôi và Alex sẽ chỉ như cơn mưa, đến rồi đi. Mà quả thật đã có những cơn mưa nhỏ giọt  xuống bầu trời Barcelona khi tôi rời khỏi.

Tôi ngồi trên xe bus, để Barcelona dần dần chìm qua lớp bụi đường. Trời càng lúc càng lạnh, tôi vùi mình trong lớp áo khoác, buồn như cả tảng núi  đang đè sâu lên vùng cảm giác. Xe bus lao qua vùng hoang dại, những ngọn núi đằng xa, những cây bụi lùm, những vùng đất bụi đỏ ẩn mình dưới lớp ánh sáng đỏ quạnh của buổi chiều thu. Mặt trời quăng xuống nhưng tia nắng yếu ớt và cả vạt trời chiều rực rỡ. Chẳng phải đó là lời chào tạm biệt tuyệt vời nhất, nhưng cũng là lời hẹn gặp lại diệu kì. Hẹn gặp lại vào ngày mới nhé Alex.