Lênh đênh lòng phố Paris

Đó là những ngày giữa xuân, chớm hạ, đánh dấu tôi đã ở Paris gần 5 tháng.

5 tháng đó, trẻ con quanh quẩn nhà, trường, chợ, đảm bảo cái sự ăn học lộm nhộm.

Trường tôi ở quận 13, nhà cách trường 3 phút đi bộ, 20 giây đường chim bay. Quận 13 là cái xó nhộn nhạo nhiều Tàu, nhiều đen, đến nỗi em tôi bảo “Ở đây dân Pháp mà gặp nhau tay bắt mặt mừng nhận đồng hương”. Còn người Việt gặp nhau, ngó lơ, hút sáo, hoặc giả bộ nói tiếng Pháp nếu có lỡ dẫm lên chân nhau. Sau 5 tháng chỉ loanh quanh quận 13 thì tôi tự nhủ ” phải ra phố”

Khi còn bé, nhà tôi hay treo cái lịch hình tháp Eiffel. Có lẽ là lịch những năm 95 vậy mà tới năm 98, 99, tôi vẫn thấy tờ lịch bạc màu ấy chễm trệ trên tường. Ngày tôi sang Bỉ, bố bảo ” Đi chơi đâu thì đi, nhưng phải đến Paris đấy”. Với ông Paris hoa lệ là cái gì đó cực kì, là thủ phủ của châu Âu già cỗi.  Hè, bố mẹ  sang chơi, cả nhà đi Rome, đi Barcelona, đi Bordeaux, chỉ có Paris là các cụ thích nhất. Chỉ khi thấy cái khối thép khổng lồ ấy là tự nhiên các cụ hết cả mệt mỏi. Mẹ suýt xoa “Kì vĩ thật“, bố sau khi đi ạnh này sang cạnh kia đọc tên những nhà toán học vĩ đại khắc trên tháp thì tặc lưỡi “Bố khỉ, sao từ ngày xưa chúng nó đã vĩ đại thế”.

Tôi thấy đa phần mọi người đều chê công trình rỉ sét này. Eiffel được dựng lên là cả một thời kì đồ sắt mở ra. Khi tháp mới ra đời, Eiffel cũng như cái tháp của ông đã hứng chịu cả tấn đá từ dân chúng (chắc cũng đủ khỏa lấp cả sông Seine). Eiffel quá ghê gớm để có thể giữ vững cái cột sét khổng lồ này. Chẳng ai ngờ là hàng trăm năm sau nó vẫn là cái cột thu tiền lớn nhất cho nước Pháp. Có chuyện hài đã xảy ra ở Paris những năm 90, khi có một kẻ khôn ngoan đã đăng báo rao bán Eiffel. Lí do đưa ra: khủng hoảng kinh tế, nước Pháp không còn tiền để duy trì bảo dưỡng, nên phải bán đi, cân sắt vụn (nghe cũng có lí). Một lũ những kẻ nhiều tiền ngu ngốc tụ tập lại, đấu giá, kẻ ngốc nhất trúng thầu. Còn thằng cha lừa đảo thiên tài đã bán Eiffel không phải 1 mà 3 lần. Cuối cùng thì hắn vào tù, tội dám trêu ngươi linh vật nước Pháp.

Tôi thì tôi thích cái tháp này. Không hiểu vì sao nữa, không phải vì thẩm mĩ là chắc. Khi làm thẻ metro 1 năm, việc đầu tiên tôi nghĩ là ” có thẻ thì bất cứ khi nào chán làm việc, có thể bắt tàu tới Bir Hakem, ngắm Eiffel để lấy tinh thần”. Bởi một lần mệt mỏi, đi ngang qua thấy đỉnh tháp nổi bật qua dòng Seine thì tôi tự nhiên thấy thật hứng khởi. Một thứ kì vĩ như thế mà người đời còn làm được, thì cái sự nghiệp học hành ngớ ngẩn của mình có gì mà không thể xong. Eiffel cũng là một lí do để giữ tôi 3 năm cắm rễ ở Paris.

Tháng 3 nắng đau đầu. Mùa hè hình như lấn lướt mùa xuân mất rồi. Tôi lượn vào khu trung tâm Paris. Họ gọi đó là quận Latin, nơi khách du lịch đổ bộ, dân Pháp tập trung, đông đúc nhộn nhịp. Bọn trẻ ranh ngồi tràn ra cầu Pont neuf uống bia hút thuốc ồn ào. Nắng chiếu chói đỉnh Eiffel  mờ loãng không khí. Sông Seine dọc ngang thuyền bè du lịch và lũ thanh niên tắm nắng hai bên bờ. Tôi cũng ngồi đấy tắm nắng đến khi thấy vitamin D đủ thì mới rời đi.

Đường đi vào Pantheon – nơi ngủ ngàn năm của những người Pháp vĩ đại, toàn những kẻ tầm thường. Họ đang nắm tay nhau đi dọc các đường đá nắng. Dân Pháp đã đổ xô ra quán bar ngoài trời uống bia sóng sánh. Tôi hớn hở bước ra khỏi hàng kem Yogurt với cốc kem vị xoài, ngon bá cháy. Tôi đảo qua quán này quán kia, quần áo, nữ trang, thật thời thượng, tinh tế, và đắt tiền. Paris cái gì cũng có, chỉ hiếm nhất là bạn bè thân. Tôi cần vài cô gái xung quanh để cùng ồ à những chiếc váy kiều diễm, cùng thảng thốt những thứ đắt tiền, rồi lại mơ màng về chàng xanh lơ. Hoặc chí ít tôi cũng cần cái gì đó phiêu lưu như Midnight in Paris, khi mà cả thế giới nghệ sĩ quây quần uống rượu và hát ca.

Có vài tiếng hát từ Pont des arts.

Pont des arts, vốn nổi tiếng vì khóa tình yêu đã sắp không còn chỗ để treo khóa. Có vài cô nàng ngồi đó vẽ tranh. Có anh chàng quay phim, có người chụp ảnh. Có kẻ đạp xe thong dong, có người ngồi tán chuyện. Tôi ngồi bệt xuống, cầm chai Ken uống cùng con Coco Lee. Chóp nhọn của Notre dame lấp ló ở phía xa, giữa những hàng cây bắt đầu xanh lộc. Những bức tượng quỉ sứ ngồi nghĩ suy trên mái nhà thờ, như hình ảnh thằng gù thưở nào. Bia, Paris, và hoàng hôn sắp tắt. Khỉ thật, tôi đến yêu Paris mất rồi.

Tại sao Rodin lại làm bức tượng  La penseur (người suy nghĩ) khiến cả nhân loại nghĩ suy. Tại sao Degas lại bị ám ảnh bởi các vũ công ba lê?Tại sao Monet lại thích vẽ bóng dưới mặt nước?Tại sao Mary Cassatt rời bỏ nước Mĩ tới Paris?Tại sao Piscasso họa cô nhân tình người Pháp bé nhỏ trong Dora Maar au Chat? Tại sao Hemingway tới đây say xỉn? Sao lúc nào Honore de Balzac cũng nhạo báng cuộc đời ? Còn Huygo thấy ai cũng khổ? Tại sao Chopin ngỡ ngàng Paris? Và Coco là ai trước khi thành Chanel? Liệu Bonaparte có nằm yên dưới Invalides? Tại sao Marie Cruise gắn chặt đời mình cho những chất hiểm nguy?Còn Edith Piaf vẫn hát mãi La vie en rose qua cuộc đời đau khổ của mình?

Bởi đó là Paris. Họ đều đã sống và tận hưởng Paris trong những ngày tháng tươi đẹp. Edith Piaf cứ mỉa mai “ôi, Paris thật đẹp phũ phàng, là con gà trống đồng tính thích được yêu và lãng quên”. Còn Hemingway đã nói gì nhỉ? “Nếu bạn may mắn được sống ở Paris trong những năm tháng tuổi trẻ, bạn sẽ không bao giờ quên được suốt cuộc đời, bởi Paris là hội hè liên miên”. Cả một thế hệ kì ảo của trường phái Impressionist đã tới Paris, họ vẽ, vui đùa, và làm thế giới ấn tượng. Nghệ sĩ đến Paris để tìm lại những cảm xúc lãng quên, hay tìm tới Paris để khơi gợi những cảm xúc mới. Tôi đến Paris để học, để chiều nắng lên Montmartre ngồi ngắm toàn thành. Có anh chàng đang hát, hát rất hay “Aicha”, cho những kẻ Tunisie hát và nhảy theo. Nắng đã nhuộm vàng các nóc nhà bên dưới, còn gió thổi lành lạnh. Anh chàng bắt đầu “Never mind I’ll find someone like you”, lũ chúng tôi hát theo trong hơi men ngà ngà. Anh đàn, một anh Phi lên ráp, một chị Pháp lên hát hứng khởi “No women, no cry”.

“Các em từ đâu tới” anh chàng ca sĩ quay lại hỏi

“Việt nam”

Anh chàng ca sĩ hét lên ” Việt Nam” và tất cả mọi người ngồi đấy cùng đồng thanh. Rồi anh cúi đầu và nói “Cảm ơn”. Tôi chạy tới ôm chàng nghệ sĩ, anh quá là tuyệt đấy nhé. Có ông già da đen đi qua, lôi máy ảnh ra khoe với chúng tôi hình ảnh bác Hồ, Sài Gòn và những người bạn Việt. Cô gái Maroc rủ rê tôi đi disco, còn anh chàng người Ý xa lạ thích thú khi thấy chúng tôi bặp bẹ vài từ. Cô bạn Hà Lan thì vui khôn xiết khi lâu rồi mới được nói tiếng Anh.   Nào cùng uống bia, nhảy nhót, và Paris. “No woman, no cry”

“Chiều nay tôi ra phố về, thấy đời mình là những chuyến xe”

Advertisements

Tìm một góc bếp trú chân

( truyện nhảm của một ngày paris nắng đau đầu)

Lần đầu tiên bước vào ngôi nhà lụp xụp ấy, tôi đã bảo

¨Anh ạ, em sẽ sinh con bên góc bếp này¨

Anh không nói gì, nhìn tôi kì quặc.

¨Bởi ngày xưa em cũng được sinh ra như thế¨

Cái ngày mà, ông đỡ đưa cho cha tôi một hình hài bé nhỏ. Một đứa bé gái bé bỏng được sinh ra trong góc bếp, nơi mẹ tôi chợt trở dạ chiều đông. Bà quá đau tới nỗi, cha tôi phải xếp ngay một ổ rơm cho mẹ nằm và lục đục đi gọi bác sĩ.

¨Cô gái góc bếp của tôi đây rồi¨ cha tôi sung sướng hôn lên cái trán bướng bỉnh còn đang khóc inh ỏi.

Cha hay kể, ngày xưa cha mẹ tôi yêu nhau cũng từ cái bếp này. Những ngày còn cùng nhau dạy ở trường cấp 3 huyện, sống chung khu tập thể, dùng chung bếp nấu, họ quen nhau. Mẹ bảo cha là cái oan nghiệt mẹ nhận vào. 

Khi một ngày, bà vào bếp nấu ăn, thấy một đống giấy bừa bộn, bẩn thỉu, những phân và rác thì máu nóng lan lên mặt. Bà quyết phải tìm ra kẻ bẩn thỉu bừa bộn này. Sau một hồi tìm kiếm, tra khảo thì bà cũng tìm ra cha tôi, khi ông đang hì hục giặt cái quần bẩn. Ông đi cầu tiêu bị thụt chân, cả quần bẩn thỉu xú uế. Cuống quá ông mới làm liều ở cái bếp tập thể. Mẹ tôi giận lắm, không tưởng tượng được trên đời này lại có kẻ bừa bộn, cẩu thả, vô trách nhiệm. Còn cha tôi chỉ cười hì hì rồi lại lao vào tẩy rửa cái quần ống loe duy nhất.

¨Xin lỗi, mình giặt cái quần đã, mai còn phải diện đi coi chiếu bóng. Tí mình vào dọn bếp sau¨

¨Đồ trẻ con¨ rồi mẹ bỏ đi mất. Bịt mũi vào, bà dọn cho xong để còn kịp bữa cơm chiều.

Mẹ ăn xong bữa, bưng bát ra bếp, thấy than vẫn hồng. Dưới đống than đỏ, những củ khoai lang đang thơm nức mũi. Cha tôi tranh thủ lúc bếp không có ai đã mang khoai nhét vào, đền tội. Mẹ gọi cả khu ra ăn, trừ cha tôi. Từ đó họ có duyên nợ.

Tôi vẫn nhớ ngày bé khi mẹ tôi bên bếp củi thì cha tôi ngồi đọc sách. Mẹ bảo ngày xưa ghét nhau lắm mà chỉ vì mấy quyển sách chết tiệt mà thành nên duyên. Xưa cha tôi lười nhác mà láu cá. Cứ gần tới giờ cơm là mon men sang phòng mẹ, ngồi kể chuyện cho bác cùng phòng mẹ nghe. Ông kể từ Tam quốc chí sang Thằng gù ở nhà thờ Đức Bà. Ông thuộc hết, thuộc như truyện đời mình. Khi kể lúc trầm lúc bổng, lôi cuốn, đến con kiến trong lỗ cũng bò ra, còn mẹ thì bò ra khỏi bếp. Sợ đứt mạch chuyện, lần nào bác Xuân cũng mời ông ở lại.  Thế là ông có bữa ăn hàng ngày.

¨Thằng này có duyên kể chuyện quᨠbác vẫn gật gù như thế khi kể về cha tôi, còn mẹ tôi làm ngơ như thể chuyện hay không lay động nổi.

Rồi từ phòng tới bếp. Cha tôi bắt đầu mang tới những tiểu thuyết,  ngồi đọc cho mẹ nghe khi bà nấu cơm. Họ không nói nhiều chỉ nhìn nhau và những trang tiểu thuyết. Họ yêu nhau vì những trang truyện thế nên về đời thực họ không dung hòa được.

Tôi vẫn nhớ khi lên 5, anh tôi nằm ốm ở nhà. Mẹ tôi tất tưởi chạy ra chạy vào. Đợi mãi không thấy cha tôi đi mua thuốc về. Khi ông về người nồng mùi rượu mà tay trắng. Mẹ tôi mang hết cái bực tức ra gào xé người cha ham chơi vô tâm. Đó là lần tiên, cha cầm cả mâm bát vứt ra trước hiên nhà. Tôi nghe tiếng loảng xoảng thì sợ hãi cứ khóc ré lên không thôi. Đêm ấy cha đi miết. Sớm mai ông mang về thuốc cùng một nụ cười đền tội.

Từ đó không bao giờ có một trận cãi nhau nào nữa. Họ sống độc lập trong hai thế giới riêng, không va chạm. Cha tôi vẫn đọc truyện, nhưng không thành tiếng. Mẹ tôi vẫn làm bếp, nhưng không còn những món nhậu. Trong bếp, những bữa cơm gia đình vội vàng. Điều đó đẩy cha đi xa. Ông chọn cho mình một công việc ở xa gia đình hàng trăm cây số. Để hàng tuần, rồi hàng tháng, hàng quí, hàng năm ông mới về. Mỗi lần mang rất nhiều quà cho tôi, cho anh tôi, còn mẹ thường là đồ dùng làm bếp. Tôi biết ở nơi đó ông có ngồi trong một cái bếp khác, nhưng mỗi lần về bên bếp của mẹ, ông vẫn khen ¨Bếp của mẹ mày là nhất, là nhất¨.

Cái bếp có lẽ là nơi chứa đựng nhiều bí mật nhất trên đời. Ngày còn dùng bếp than, nhà tôi có cả khoang chứa củi nhóm. Tôi hay lê la giấu đồ chơi ở đó trêu tức anh. Ở đó, anh em tôi đánh nhau, nhưng cũng cùng nhau chia miếng bánh. Ở đó, tôi tìm thấy hộp đựng tiền. Nhờ vậy mẹ phát hiện ra bố lén cất của riêng. Vài lần khác, tôi lôi ra nhóc những gói đồ ăn trong góc. Chúng tôi ăn mà không biết đó là đồ vặt ông mua cho bà khi bà ốm. Khi nghèo đến người già cũng ích kỉ. Mẹ tôi sau này biết chuyện đã giận ông bà lắm. Tôi thấy mẹ ngồi khóc trong bếp, rồi bà ôm tôi vào lòng. Mẹ tôi hiếm khi thể hiện tình cảm. Nhưng khi đó, tôi thấy sợi dây vô hình ràng buộc giữa tôi, bà, và cái bếp

Khi chuyện đó xảy ra thì tôi xa lánh hẳn cái góc trốn của mình. Đó là khi tôi lên 6, tôi có một vài của cải cho búp bê của mình, tôi giấu biệt trong góc bếp. Con nhóc em họ ranh ma tìm ra, mang về làm của riêng nó. Tôi kiện cáo lên ông bà, để phải ấm ức ¨Cháu mới là người có lỗi, cháu đã tạo ra một kẻ cắp trong nhà¨. Sự ích kỉ vô tình có thể gây nên lòng tham từ kẻ khác. Tôi chối từ ra vào lại cái chốn kì dị của riêng mình.

Năm 18, tôi thi trượt đại học. Khi biết tin tôi cũng chẳng sốc, tôi biết chuyện nó phải vậy. Tôi chỉ biết việc đầu tiên nên làm là chạy trốn khỏi gia đình. Tôi gọi xe ôm về quê. Từ ngày ông bà tôi mất, nhà trống hươ và cái bếp lạnh tanh. Tôi lấy trấu, vỏ dừa thổi lên một nhúm lửa. Khói bay lên tùm lum làm tôi cay mắt. Tôi cứ ngồi thế khóc mãi, đến cạn kiệt thì thôi.

Sẩm tối, tôi trở về nhà. Nhà tối thui và lạnh te. Mẹ tôi nằm co trên giường. Mẹ yên ắng như người chết rồi. Anh tôi đang đọc sách. Mỗi lần về nghỉ hè anh toàn như vậy, giống y như cha tôi. Còn cha, ông ở nơi nào xa lắm. Tôi muốn chạy tới ngủ vục trên chân ông như ngày bé mà không được. Căn nhà rộng mà một góc cho riêng mình cũng không có. Tôi vào bếp, ngồi lọt thỏm trong cái khoang đựng bình ga. Từ khi nhà dùng bình ga, chưa bao giờ cha cho tôi lại gần vì sợ nguy hiểm. Cái thân hình còm nhom, mỏng dẹt khiến tôi dễ luồn vào, tôi ngồi tựa vào bình và chỉ mong nó phát nổ. Nó yên ắng, cả căn nhà không tiếng động.

Mẹ tôi đặt kênh cả điện thoại, để không phải chịu sự tra hỏi của họ hàng. Bà cứ nằm thế từ đêm đến sáng. Lần đầu tiên bếp không đỏ lửa. Anh trai tôi thi thoảng mang đến cho tôi nước uống. Mỗi lần mang tới, anh lại khẽ đụng vào bàn tay tôi như thể nói ¨Sẽ ổn thôi¨. Anh úp mì rồi đi ngủ. Tôi biết ơn sự im lặng của anh.

Sáng mai tôi tỉnh dậy, thấy ánh sáng đã len qua khung cửa sắt. Anh tôi mở cửa ra, qua gọi cô bạn mẹ để lôi bà dậy. Tôi được kéo ra khỏi nơi ẩn nấp của mình rất nhẹ nhàng. Tôi kiệt sức với không khí nặng nè, nó làm lồng ngực của tôi chật cứng, không thở được. Tôi cũng không biết mình đã ngủ trong bao lâu, nhưng khi tỉnh dậy đã thấy bếp sáng đèn. Mẹ tôi lặng lẽ như bóng ma, bà làm ảo thuật với đống nồi niêu. Chúng tôi lại ăn  cơm trong ánh đèn tù mù, không ai nói với ai câu nào. Tôi thấy sợ chính bản thân mình, đã bao nhiêu năm tôi ngồi trong căn bếp này ăn cùng mẹ. Chỉ có 2 người đàn bà đối mặt, làm sao tôi có thể làm được điều đó lâu vậy. Ai biết có ngày nào đó, bà sẽ hạ độc đứa con ngu dốt của mình.

Cha về. Đó là cả một sự kiện. Ông cứu tôi ra khỏi cái thế giới không tiếng động. Tôi cứ ôm lấy ông và khóc. Ông không còn mang quà, ông mang về đống tài liệu về những trung cấp, cao đẳng, những ngã rẽ mới cho đời tôi. Mẹ tôi không phản đối, không đồng ý. Bà buông xuôi với ý nghĩ ¨lần đầu tiên trong họ có kẻ trượt đại học¨. Tôi lao đi, phải xa rời căn bếp của mẹ, tới một thành phố mới.

Tôi có cho mình một căn phòng 10m2 với cái bếp ga du lịch. Căn bếp sơ sài nhưng có người ngồi đó. Anh đến trong mọi bữa cơm trưa, để tôi phải tất tả chạy nắng từ trường về. Bữa tối anh còn phải về lo cho tụi nhỏ. Thỉnh thoảng tôi có gặp vợ anh trong những buổi chợ chiều. Chị có khuôn mặt khắc khổ, đôi mắt trũng sâu, đang tất bật dọn hàng. Tôi thấy có lỗi khi cái áo mình mặc hóa ra là từ gian hàng ấy. Anh giận chị chưa bao giờ lo được một bữa cơm. Tôi giận anh tìm tới tôi vì cái bếp.

Ngày anh dọn đến ở, tôi bảo ¨Cha mẹ sẽ từ em¨

¨Em cần họ thế cơ ਠanh hỏi. Thế là tôi bị thuyết phục. Tôi cũng chẳng cần biết họ hay người đời sẽ nghĩ gì nữa. Tôi cũng không nghĩ mình yêu anh nhiều. Nhưng tôi có một cái bếp và anh là người đầu tiên bước chân vào.

Mùa xuân năm ấy, tôi chuyển lên vùng cao dạy học. Chúng tôi cùng đi. Tôi chọn nơi xa xôi ấy không phải để tránh tiếng chửi của người đời. Chỉ vì trong ánh chiều, tôi thấy khói lam hắt lên từ những mái nhà. Cả bản làng, bếp rực lửa mọi nơi. Tôi ngửi thấy mùi ngai ngái của rơm, của tro. Khói mịt mù như ngày cả khu tập thể lôi bếp than ra cùng nhau hì hục quạt. Tôi cay cay sống mũi, biên thư về ¨Cha ạ, con tìm được góc bếp trú chân¨

Paris 22/3/2012

MTN

Luxor những đền đài thời gian

( lại một thứ đặc tả nghe từ miệng các anh guide)

Thời gian là kẻ thù của mọi thứ, kể cả ( đặc biệt) hạnh phúc hay tình yêu.

Dường như chỉ có Ai cập được kẻ bạo hành nương tay nhất . Khi Cairo vẫn ôm ấp những kim tự tháp kì vĩ, khi Luxor còn khỏa lấp với thung lũng các vị vua giấu sâu trong mình, thì Ai Cập còn bền vững. Những đền đài nghệ thuật không chết đi theo thời gian mà chỉ giá trị và linh thiêng hơn.

Luxor, cố đô xưa cũ của Ai Cập, vốn được biết với tên Thebes. Khi dân hồi giáo tới đây, họ thấy những lâu đài tráng lệ, những đền thờ nguy nga, những mộ phần lộng lẫy và Luxor ra đời  (teo tiếng ả rập nghĩa  là những lâu đài). Nằm ở thượng lưu Nice, nhờ ơn thần Amun, dân nơi đây sống khỏe mạnh bởi khai thác đá Alabaster và uống nước mía. Để cảm tạ vị thần này, dân Luxor xây cho Amun không chỉ một đền mà một khu đền rất oách tên Karnak. Tôi nghi rằng Karnak theo tiếng ả rập (hoặc ả nga) nghĩa là choáng ngợp bởi đó là cảm giác đầu tiên khi bước chân đến đây. Một pharaoh trước khi lìa trần thường trăn trối lại ¨ Ta trao cho con mũ miện, quyền trượng, và Karnak để … tiếp tục xây dưng¨ (tôi bịa đấy). Là một thứ cha truyền con nối nên sự hoành tráng của Karnak là không thể chối từ (có tới 11 đời Pharaoh đã nhúng tay vào công trình này). Đó là thể thống nhất những lộn xộn nghệ thuật.

Khi xưa, dân Ai Cập thích xây nhà rồi mới xây cổng. Mặt trời đã bao lần mọc lặn trên thung lũng các nhà vua mà cổng thành của Karnak vẫn chưa hoàn thành và sẽ chẳng bao giờ hoàn thành nổi. Tuy nhiên ẩn sau nó lại là cả một công trình đồ sộ, tinh xảo, đủ đầy. Đầu tiên là hàng tượng nhân sự đầu cừu, rồi khu sân rộng cùng những gian phòng nhỏ thờ thần Amun, vợ thần -Mut và con trai thần – thần mặt trăng. Nơi cúng tế dựng nên những bệ đá Alabaster trắng sữa để dân thường tụ tập khấn vái.

Dân có thể cúng các vị thần hoặc các pharaoh tôn kính. Bởi bên cạnh tượng thần Amun cùng vợ (ảnh bên), thì tượng Seti I, tượng Tutankhamun cũng hiện hữu. Nhưng như hầu hết các công trình kì vĩ khác của Ai Cập, nơi hoành tráng nhất của đền phải dành cho Ramset II. Người ta bảo Ramset II là kẻ đánh cắp vinh quang ghê gớm nhất trong lịch sử, khi đi đến đâu ông cũng khắc cartouche của mình, thậm chí khắc đè lên người khác. Ở Karnak cũng thế, trong căn phòng to rộng với hơn 134 cái cột giống hình những cây sậy, xây dựng bởi Seti I, trần nhà cũng chi chít cartouche của con trai ông bởi Ramset II thi công trang trí. Còn Cartouche là gì ấy hả? là cái hình oval có các chữ tượng hình ( con chim, con cú, con rắn, cái lông, đại loại thế) để thể hiện tên hiệu của Pharaoh. Căn phòng này vốn được xây dựng để làm nơi cho các Pharaoh biểu dương sức mạnh của mình. Pharaoh phải chiến đấu với mãnh thú vài ba lần trong cả cuộc đời vua chúa của mình (Có thắng được mãnh thú mới chế ngự được lòng dân). Lần cuối cùng thể hiện mình của Ramset II là khi ông 80 và ông phải đánh nhau với một con cá sấu sông Nile. Với sự tài tình nào đó, con cá sấu chết còn Ramset II sống tới tận năm 90 tuổi ( có lẽ là con cá sấu 2,3 ngày tuổi).

Những hàng cột chi chít cartouche

Đi sâu hơn vào bên trong Karnak, nữ quyền in dấu. Khoảng sân rộng với những cột obelisk hay tượng Pharaoh như xác ướp của nữ hoàng Hatshepsut uy nghi. Obelisk không chỉ tượng trưng cho sự sùng bái thần thánh mà đơn giản giống như biển báo ¨Ở đây có một cái đền¨. Hatshepsut cho bọc hợp kim vàng hai Obelisk để chúng sáng choang một góc trời. Một obelisk cho cha mình, còn cột còn lại cho vị cha tối thượng Amun. Như tất các cả Pharaoh nam khác, Hatshepsut luôn tự coi mình là con gái của thần. Hẳn cũng vì cái sáng choang ấy mà khi con rể của Hatshepsut lên ngôi, hắn cho xây tường bao quanh để che dấu đi sự xấu hổ của dòng tộc (Lonely planet thì bảo hắn cạo sạch hợp kim vàng). Thời gian phủ bụi lên Obelisk, đập đổ tường vây. Một Obelisk lộ ra chẳng còn sáng lóa, một cột Obelisk gục xuống vẫn bóng nguyên màu granite. Hatshepsut dù bị hạ bệ, vẫn được ghi nhận thân phận đế vương cùng những dấu tích chẳng thể tàn phá bởi Thumose III hay cát bụi thời gian.

Cát bụi thời gian chỉ che phủ hồ nước xưa kia các thầy tu tắm mình ngày hai lần để thanh khiết cơ thể (không phải tắm bùn thì sạch là đúng rồi). Ngày nay hồ không còn, thầy tu cũng chẳng có, chỉ chệm trễ một cột đá diệu kì. Tôi vẫn chưa biết vì sao nó kì diệu nhưng nghe đồn là nếu đi vòng quanh nó 3 vòng sẽ trở nên giàu có, 7 vòng sẽ tìm thấy tình yêu, còn 50 vòng tôi đoán là sẽ thành tour guide. Tôi với Trang, Vân cũng cố kéo nhau đi hết 7 vòng (không dám đi thừa một bước chân), năm nay mà không có gì xảy ra thì người Ai Cập sẽ bị chất vấn về vụ này.

Khu vực hồ kéo thẳng ra cánh cửa phụ của đền, nơi gần ngay cảng sông Nile. Hàng năm khi lễ hôi Opet diễn ra, hàng đoàn thuyền sẽ được điều động tới, đưa rước thần Amun cùng lễ vật tới thăm vợ thần là thần Mut ở đền Luxor. Nghe cũng hao hao cầu ô thước với Ngưu Lang, Chức Nữ. Chỉ khác là cả đi và về Ngưu Lang đều phải leo cầu quạ, còn thần Amun khi đi tàu biển, lúc về ngão nghệ thuyền mặt trời với nhiều người khiêng, vượt qua 3km đường nhân sư để về lại Karnak.

Đền Luxor nhỏ bé hơn Karnak nhưng cấu trúc tương tự với cổng thành, hàng tượng nhân sư bên ngoài , khoảng sân rộng thờ cúng và obelisk ở  lối vào. Trước đây Luxor có 2 obelisk đối xứng, nhưng một ngày Mohamed Ali nổi hứng nhổ bật một cái đi tặng người đẹp, thì chỉ còn lại một obelisk rất sáng giá và đáng được yêu thương. Không yêu thương sao được khi đền Luxor bé nhỏ này đã từng bị chôn vùi bởi cát sa mạc, bị đốt cháy bởi Thiên chúa giáo, bị phá nát bởi người ả rập. Bầm dập vậy mà đền vẫn đứng rất hiên ngang, ôm đầy sự lộn xộn.

Khi bước vào đền, đập vào mắt là sự chềnh ềnh của mosque hồi giáo ( dù là phần được thêm vào cuối cùng nhưng lại được nhận ra đầu tiên). Không phải người Hồi giáo không trân trọng tác phẩm cổ đại này, họ chỉ ngây thơ nhiệt tình thành vô tình phá hoại. Khi Nile dâng nước lên,  phù sa phủ ngập, rồi gió cát sa mạc tràn lên, giấu kín ngôi đền trong câm lặng. Người hồi giáo tới, bắt tay xây dựng nhà nguyện của họ trên mảnh đất bằng phẳng này. Bình yên cho tới một ngày họ thấy có những tượng đầu người trồi lên khỏi lớp cát. Không chịu được sự phiền phức này, họ chém tan mấy đầu tượng mà không ngờ rằng bên dưới đó là thế giới kì vĩ.

Những bước tượng câm nín. Nhưng sự ngoi lên của chúng cũng gây chú ý của cả Ai Cập. Đào xới bới móc vốn là việc dễ dàng nhất ( trừ ngành khảo cổ). Họ đưa lên cho thế giới cả một đền đài nguy nga, với 10 tượng Ramses II khổng lồ cả đứng cả ngồi, đội mũ miện hay mũ chiến tranh ( mũ chiến màu xanh, mũ miện màu trắng đỏ là sự kết hợp của mũ trắng của vùng hạ và mũ đỏ của vùng thượng ai cập). Chen giữa những cây sậy đá cao lớn, kể cả những tượng mất đầu vẫn đẹp nguyên sự oai hùng. Sau lưng người con thần Ra, tượng của Amenhotep III, của Tutankhamun cùng vợ, và một căn phòng hàng trăm cây cột như một hồ sậy đá nở rộ.  Thật là phục ý chí dựng cột của dân Ai Cập.

Họ dựng cột, dựng đền, dựng cả huyền thoại. Đền Luxor có 3 gian chính. Gian cuối dành làm nơi ở của các vị thần khách khứa trong lễ Opet, nhưng đã bị Alexander đại đế chen ngang, xây ngay một buồng nhỏ ở giữa phòng để dâng tặng thần Amun ( không hiểu vì sao vô duyên thế). Gian phòng này nằm ngay sau gian phòng của vợ chồng thần Amun. Còn gian ngoài cùng nơi chứa thuyền mặt trơi, có thời bị dân La Mã chiếm cứ. Khi trốn chạy khỏi chính quyền, họ nghĩ nơi nguy hiểm nhất là nơi an toàn nhất, nên đã cho bịt kín một căn phòng trong đền làm căn cứ. Họ trang trí tường và trần phòng bởi hình ảnh chúa jesu với các thiên thần. Khi không thể ra ngoài, thì người La Mã đốt lửa nấu nướng luôn tại đây. Căn phòng linh thiêng trở thành một cái bếp ám khói. Qủa là (đàn ông) Ai Cập xây đền, (đàn bà) La Mã xây bếp.

Về tổng thể đền Luxor là sự kết hợp tôn giáo kì lạ của hồi giáo, thiên chúa giáo, lễ giáo ai cập. Hiếm nơi nào các tôn giáo xa lạ lại cùng chung sống hạnh phúc như thế. Dù hiện hữu dưới hình dạng chúa Jesu, đức Phật hay thánh Ala thì chúng ta cũng chỉ có một đấng toàn năng. Thật không có gì sai trái khi dành tình yêu và niềm tin cho tất cả các hiện thân của người. Kể khi chúa bắt loài người phải chết vì tội lỗi xưa cũ của Adam và Eva thì cuộc sống tươi đẹp vẫn cần thật nhiều niềm tin.

Bầu trời xanh đã xóa nhòa sang tím đậm, sang đen. Khi trăng non ló rạng trên đầu con trai thần Ra, bóng đêm bao trùm cả Luxor. Một ngày đã hạ xuống nơi các vị thần, rồi sớm mai lại rạng ngời nơi các pharaoh. Sớm mai trên khinh khí cầu, tôi sẽ ngắm một bình minh.

Doppelganger, Deja vu, và mớ ý nghĩ lộn xộn

Tôi ghét tiếng Đức, quả thực rất ghét. Đó là thứ ngôn ngừ tôi thề sẽ không bao giờ học, vì sợ chỉ đọc xong 1 từ đã tắt hơi. Tôi ghét tiếng Đức, nhưng tôi thích từ này: Doppelganger.

Doppelganger là sự giống nhau bất thường của hai kẻ xa lạ. Kiểu như đi ngoài đường tự nhiên bạn gặp một kẻ y chang mình mà không bà con xóm giềng (trừ phi phẫu thuật thẩm mĩ cùng cơ sở thiếu sáng tạo). Nó không phải kiểu hao hao giống nhau như mẹ tôi và diễn viên Như Quỳnh (dù quả thật đôi mắt Á Đông của hai bà cụ là y chang), hay bố tôi giống ca sĩ Trung Anh ( nam), tôi giống ca sĩ Trung Anh ( nữ) hay Keira Knightley giống Natalie Portman. Doppleganger gần như bạn thấy Zooey Claire Deschanel diễn trong “500 days with summer¨mà hét toáng “ má ơi, Katty Perry đá trái sân”. Ở 9gag, họ post ảnh hai cô nàng kèm dòng chữ ¨Những ông bố phải có lời giải thích¨. Các ông bố có lẽ cũng không thể tạo nên phép màu này (khi các bà mẹ cũng có tham gia vào vấn đề cho gen), chỉ có thể là chúa trời, chỉ có thể là Doppelganger.

Doppelganger là một điều thần kì. Họ gọi đó là sự phân thân.

Ngày xưa, Doppelganger là điềm báo về cái chết sắp đến gần. Có đồn đại rằng khi bạn sắp chết, người thân có thể nhìn thấy ai đó y chang bạn ở ngoài đường (trong khi bạn nằm trên giường) hoặc chính bạn sẽ lờ mờ thấy hình ảnh mình đâu đó, có thể là trong giấc mơ. Bởi khi sống không bao giờ bạn có thể mơ thấy khuôn mặt mình. Có nhiều giấc mơ, tôi thấy mình sắm vai trong đó, nhưng là dưới khuôn mặt, cơ thể của người khác ( thường là diễn viên trong những bộ phim vừa coi, tôi mơ cập nhật lắm). Dường như không có gương thì không bao giờ bạn biết chính xác khuôn mặt mình, trừ khi gặp một Doppelganger. Nhưng không có gương thì làm sao biết cô ta/ hắn ta là doppelganger của mình. Lại một nghịch lý.

Ngày nay, chẳng ai sợ mà chỉ háo hức được gặp Doppleganger . Tôi cũng thèm thuồng trải nghiệm này mà không được, tôi có một cấu thể Doppleganger khác. Không tạo ra từ ý trời mà từ ý người, thứ bóp méo này ( mà tôi tự cho là mình nghĩ ra) gọi là Doppelganger tâm tưởng.

Một hôm đi dạo ở Siena, tôi nhìn thấy một cô gái ngăm đen, tóc xù và nghĩ đó là Saru bạn mình. Saru bấy giờ đang ở Mĩ, nói điều tương tự rằng hôm nay cô ấy thấy tôi ở Chicago. Dĩ nhiên tôi không ở Mĩ, Saru không ở Ý vào tháng 4 ấy, chỉ là tôi nhớ cô ấy quá.

Một ngày trở về sau kì nghỉ dài, tôi gặp Vengat và bị cậu ta ca thán ¨Qua tôi thấy cậu ở nhà ăn, đã gọi mà cậu chẳng thưa¨. Tôi hoài nghi, hôm qua tôi còn đang ở đâu đó ở Napoli, sao có thể ngồi trong Mensa Torino được chứ. Chỉ là tôi đi lâu ngày, cậu ta quá mong tôi về uống cafe.

Chiều nọ ở  Porta Susa, tôi đang loay hoay ngược nắng đón bus số 10 thì bất thình lình, tôi thấy cậu ấy ở góc đường. Tôi thấy luồng điện chạy giần giật ¨Cái quái gì mà cậu đến đây không báo trước¨. Hóa ra chỉ là hai người mặc áo giống nhau, cậu bạn tôi vẫn đang ở nơi xa tới vài trăm km. Hình như lúc đó tôi rất mong gặp cậu ấy.

Có ngày, tôi tự nhiên thấy Arnab bước dọc hành lang trường Polito, trong khi người thật đang ngồi lab ở Louvain la neuve. Đôi lần tôi dựng tóc gáy vì thấy những Pierre bước sượt qua một cửa 1 Patesserie, rõ ràng là một vài anh chàng người Pháp nào đó trông giống cậu bạn Bỉ của tôi. Lần gần nhất, tôi thấy em trai tôi ở metro Paris, vì lâu rồi tôi chưa gặp. Thỉnh thoảng đi chợ tàu, tôi sởn gai thấy Ngân, thấy Ly. Hôm qua, rồi hôm kia tôi cũng giật mình thấy những hình bóng thân quen thoảng qua. Họ đã bước ra khỏi những giấc mơ đêm. Kì lạ là tôi chưa bao giờ thấy bố mẹ mình.

Dĩ nhiên đó không phải Doppleganger chính thống, chỉ là một thứ lãng xẹt. Khi tôi nhớ bạn mình, cái ý nghĩ đó bao trùm lấy kẻ xa lạ, bọc họ bằng vẻ ngoài thân thuộc. Có một điều kì diệu, một bí ẩn tuyệt mật của vũ trụ đó là khi bạn muốn điều gì quá, sóng não sẽ truyền yêu cầu ra vũ trụ,. Với một cách tuyệt vời  nào đó sẽ có câu trả lời đáp lại. Ý nghĩ tạo nên cuộc sống của bạn ( dưới sự trợ giúp của đấng tối cao). Chính vì thế số phận là do đấng quyền năng áp đặt, nhưng với ý nghĩ của mình, bạn sẽ giúp họ tạo dựng định mệnh mình dễ dàng và đúng cách hơn. Tôi sợ Triết và Tâm linh, tôi chỉ định nói khi nỗi nhớ đủ đày, tôi sẽ bắt gặp ở đâu đó một ai đó trong dáng hình của bạn. Đừng ngạc nhiên nếu tôi ngờ nghệch ¨Hôm qua tôi mới gặp cậu ở Montmatre đấy¨

Và thật tuyệt nếu khi gặp nhau thật, cậu thốt lên ¨Này tôi thấy cậu mặc cái áo này lúc nào đó rồi ấy¨ mặc dù áo mới ấy lần đầu tôi mặc. Chỉ là cậu bị deja vu. Cậu tưởng như đã nhìn thấy điều gì đó từ trước rồi và tự nhận mình là nhà ngoại cảm. Khi tới 80% con người thấy deja vu thì hiện tượng kì lạ này chẳng có gì kì lạ nữa. Nó chỉ bí hiểm một cách tâm linh, hoặc não bộ bị nhầm lẫn khi ghi hình ảnh mới vào mục kí ức. Pằng, pằng, thế là đột nhiên điều mới mẻ thành điều cũ kĩ rất lâu rồi. Như đột nhiên xếp nhầm sách mới vào cái giá cũ, lại lẩn thẩn ¨quyển sách này mới mua hôm qua hay từ năm trước rồi¨

Đôi khi trong quán cafe xa lạ, tôi ngồi uống trà cùng bạn mà nghĩ ¨hình như mình đã từng ngồi cái góc này lâu lắm rồi¨. Đôi khi tôi thấy một thứ gì đó, nói một điều gì hoặc gặp một ai đó mà quay cuồng bởi ý nghĩ ¨rõ ràng mình đã thấy nó trong mơ¨. Có thể chỉ là tôi chờ đợi những điều hay ho này quá lâu rồi nên đã tưởng tượng về nó trong một thời gian dài. Tâm linh hay sai lầm của bộ não, tất cả cũng chỉ là ý nghĩ.

Thỉnh thoảng có ai nói chuyện, tôi ậm ừ nghĩ mình đã nghe điều này từ trước, và đúng là thế thật. Bởi kẻ nhiều lời đó cứ lặp đi lặp lại, ấy là deja vous. Khi 5 ph trước chia tay nhau, 5ph sau anh ta đã trở lại gõ cửa, tôi gào lên trong lòng ¨trời ạ, deja vous¨. Đó không còn là ý muốn của mình mà là của người. Không phải cái bất ngờ thích thú như Doppelganger tâm tưởng hay Deja vu,  Deja vous là cái bất ngờ không khoái.

Ai trong đời (ờ chỉ tầm 1/3 hay 1/2.5 đời vì chúng ta còn trẻ) đều trải qua cả đống hỗn độn này. Ai có thể nói bằng cách nào những hiện tượng này sinh ra? Cũng như làm thế nào chúng ta có mặt trên thế giới này? Những con cò thả đứa trẻ trước cửa chỉ có trong cổ tích. Những hạt vũ trụ va đập vào nhau, những đơn bào sống đầu tiên ra đời, những trùng roi xanh, tập đoàn Volvox, những đa bào được phát triển, rồi cá có mang, bò sát 4 chân, chim có cánh, khỉ thông minh. Con người hiện hữu. Đó là khoa học. Nhưng mẹ tôi hoàn toàn có thể sinh ra một em bé mắt 3,4 mí như bố, chỉ là bà thường lo lắng ¨Con mình có thể lại một mí giống mẹ¨. Cái tâm tưởng ấy được lắng nghe, tôi thành hình như thế. Họ bảo gen của mẹ trội, tôi bảo tại ý nghĩ của bà. Tôi không thích đôi mắt mình, đôi chân mình, thì cũng không đổ tội cho gen bố lặn hay sự sợ hãi của mẹ.

Ý nghĩ đơn thuần là không kiểm soát nổi. Nó hoàn toàn có thể gây ra sự hỗn mang cho thế giới này. Bộ não là thực thể kì năng. Bây giờ, tôi hiểu vì sao nước Pháp thông qua bộ luật cho phép người thực vật kết liễu mình. Đó mới là nhân đạo, thật khó sống khi não đã chết.

Chuyến tàu chạy ngược

Tôi cũng chẳng biết tại sao mình trả lời “Có”. Cũng long trọng và thiêng liêng như cô dâu trong nhà thờ, khi bạn hỏi “ Sẽ đến chơi chứ? “

Tôi chỉ biết mở mắt ra thì mình đã ngồi trên tàu. Tàu đi đến một vùng đất chẳng lạ, không quen. Không phải vùng đất của tôi và tóm lại là tàu đang chạy ngược. Tôi khóc dở, mếu dở.

Tôi không ghét những chuyến tàu, tôi chỉ không dung hòa được với nó. 22 năm sống ở Việt Nam tôi đi 2 chuyến tàu, 2 năm sống ở Tây tôi đi tầm 22 chuyến (có bội số kèm). Mỗi chuyến tàu đều rất khí thế lúc đi, uể oải lúc về. Đầu óc nuối tiếc vì nhiều nơi chưa đặt chân tới mà miệng thì than ầm lên “ Sướng quá sắp được về cái tổ cú của mình”. Khi bước ra khỏi một tình yêu người ta có thế không? Chắc là không, vậy mà ai đó đã ví tình yêu như chuyến tàu. Thực ra thì bất kì cái gì cũng có thể ví như tình yêu, bởi cái thứ vô định hình lỏng lẻo này vừa với mọi cái lọ. Chẳng ai muốn lỡ tàu và chẳng ai muốn tình yêu ra đi trừ khi biết không thể giữ nổi.

Một con tàu đang chạy rất êm qua bao chông chênh. Tàu chạy rất êm, vậy mà óc tôi long xòng xọc mệt mỏi. Tôi mơ hồ thấy cái vùng tâm tưởng bị khuấy loãng. Con tàu lao như bay vào nó, như cái cách tàu vũ trụ xé lớp khí quyển.  Khoảng không bao la tối mở ra, tôi bị hút vào cái hố đen của hồi ức. Ngọt ngào như cây nắp ấm nuốt con nhặng con.

Tàu chạy từ êm êm thành òng ạch, lọc cọc, rồi ầm ầm ù ù. Một chuyến tàu dọc chữ S. Chuyến tàu đầu tiên không phải cho tôi, mà của bố. Với nải chuối xanh, đôi dép lào, và cái bật lửa (để dép đứt còn gá vào đi), bố nhảy tàu đuổi theo tàu của mẹ vào Nha Trang (khi cưa cẩm nhau thì thanh niên thời đại nào cũng hừng hực hăng say như thế). Sau những ngày trốn vé cực khổ, ông lang thang trên biển Nha Trang, ngỡ ngàng nhận ra, không biết mẹ đang ở đâu. Thật thần kì, họ tìm thấy nhau và 2 năm sau tôi có mặt trên đời. Đó là câu chuyện thực tế lãng mạn nhất mà tôi từng nghe. Một thứ lãng mạn rất cũ và đắt. Đã có thời tôi nghĩ “ bố mẹ mà yêu nhau sao?”, giờ nghĩ lại “Không phải tình yêu thì là gì chứ”

Sau đó là những con tàu bắc nam xọc ngang tuổi thơ tôi. Bố ngược xuôi nuôi gia đình, mẹ bên hàng sách nhỏ. Tôi vui vẻ trong nhà trẻ với những chiếc váy mới.

Rồi tôi lớn, tôi rời nhà trong chuyến tàu của mười năm về trước. Tôi trên tàu với con bạn thân cùng bố bạn. Bố mẹ tôi ở đâu thời điểm này? Mẹ có lẽ đang bận đèo em đi học. Bố, bố ở đâu nhỉ? Bố có lẽ đang ở ga đợi tôi. Ừ đúng thế, bố lúc nào cũng đứng ở những nơi quan trọng nhất trong cuộc đời. Bố đứng ở bến tàu đợi tôi từ quê ra Hà Nội thi cấp 3. Bố đứng ở sân trường đợi tôi thi đại học. Bố đứng ở sân bay đón tôi du học về. Lúc nào cũng là bố đợi, trong bao nhiêu kì vọng.  Bố hay nói với mọi người “Nó là cái đuôi của mình” . Tôi cong cẩy “ Vậy bố là con khỉ” . Hè nắng, trên đường phố Roma xập xệ, tôi  hỏi “Bố nghĩ con là con trai à?”, ông bảo “ Con gái rượu nhà mình còn hơn khối thằng con trai khác”. Đó là cú chót đẩy tôi lên một con tàu chạy xa hàng nghìn km khỏi ga Hàng Cỏ.

Ga Hàng Cỏ, vẫn lặng lẽ những chuyến tàu đêm ra vào. Trên chuyến tàu, có người vẫn luôn mong tôi, dù chỉ một lần đứng ở ga đón đợi. Tôi chưa bao giờ làm được. Điều kinh khủng nhất trên đời này không phải không có ai hiểu bạn mà có người hiểu, biết bạn muốn gì mà quyết không làm. Như người đàn bà bé nhỏ cũng phải rời người khổng lồ mắt xanh khi tình yêu lớn trú không nổi một ngôi nhà với giàn hoa nhỏ, chuyến tàu đó đã rời tôi đi. Tôi luôn mong có cô gái nào đó giờ đây sẵn sàng đứng đợi nơi ga Hàng Cỏ, đừng như tôi lủi thủi ga tàu trong mọi chuyến đi mà lòng gào thét “ Gía đâu đó có người đợi mình”

Tôi vô tâm, ác độc, và tôi sợ là mình đã chai sạn. Nhưng tôi  đã biết ra ga đợi những chuyến tàu. Tôi cũng ra ga tiễn những chuyến tàu. Đôi lần tôi ướt át. Đầu tôi ong ong “Ce train qui s’en va”. Hélène đã hát gì nhỉ?

“Ce train qui s’en va

C’est un peu de moi qui part, qui part”

Khi chuyến tàu rời bến, một phần trong tôi ra đi. Thật khó để thấy một ai đó ra đi, em tôi hay cậu.

Tàu tôi đã đến bến rồi đấy, chẳng có ai cả, bạn không và bố càng không.