( lại một thứ đặc tả nghe từ miệng các anh guide)

Thời gian là kẻ thù của mọi thứ, kể cả ( đặc biệt) hạnh phúc hay tình yêu.

Dường như chỉ có Ai cập được kẻ bạo hành nương tay nhất . Khi Cairo vẫn ôm ấp những kim tự tháp kì vĩ, khi Luxor còn khỏa lấp với thung lũng các vị vua giấu sâu trong mình, thì Ai Cập còn bền vững. Những đền đài nghệ thuật không chết đi theo thời gian mà chỉ giá trị và linh thiêng hơn.

Luxor, cố đô xưa cũ của Ai Cập, vốn được biết với tên Thebes. Khi dân hồi giáo tới đây, họ thấy những lâu đài tráng lệ, những đền thờ nguy nga, những mộ phần lộng lẫy và Luxor ra đời  (teo tiếng ả rập nghĩa  là những lâu đài). Nằm ở thượng lưu Nice, nhờ ơn thần Amun, dân nơi đây sống khỏe mạnh bởi khai thác đá Alabaster và uống nước mía. Để cảm tạ vị thần này, dân Luxor xây cho Amun không chỉ một đền mà một khu đền rất oách tên Karnak. Tôi nghi rằng Karnak theo tiếng ả rập (hoặc ả nga) nghĩa là choáng ngợp bởi đó là cảm giác đầu tiên khi bước chân đến đây. Một pharaoh trước khi lìa trần thường trăn trối lại ¨ Ta trao cho con mũ miện, quyền trượng, và Karnak để … tiếp tục xây dưng¨ (tôi bịa đấy). Là một thứ cha truyền con nối nên sự hoành tráng của Karnak là không thể chối từ (có tới 11 đời Pharaoh đã nhúng tay vào công trình này). Đó là thể thống nhất những lộn xộn nghệ thuật.

Khi xưa, dân Ai Cập thích xây nhà rồi mới xây cổng. Mặt trời đã bao lần mọc lặn trên thung lũng các nhà vua mà cổng thành của Karnak vẫn chưa hoàn thành và sẽ chẳng bao giờ hoàn thành nổi. Tuy nhiên ẩn sau nó lại là cả một công trình đồ sộ, tinh xảo, đủ đầy. Đầu tiên là hàng tượng nhân sự đầu cừu, rồi khu sân rộng cùng những gian phòng nhỏ thờ thần Amun, vợ thần -Mut và con trai thần – thần mặt trăng. Nơi cúng tế dựng nên những bệ đá Alabaster trắng sữa để dân thường tụ tập khấn vái.

Dân có thể cúng các vị thần hoặc các pharaoh tôn kính. Bởi bên cạnh tượng thần Amun cùng vợ (ảnh bên), thì tượng Seti I, tượng Tutankhamun cũng hiện hữu. Nhưng như hầu hết các công trình kì vĩ khác của Ai Cập, nơi hoành tráng nhất của đền phải dành cho Ramset II. Người ta bảo Ramset II là kẻ đánh cắp vinh quang ghê gớm nhất trong lịch sử, khi đi đến đâu ông cũng khắc cartouche của mình, thậm chí khắc đè lên người khác. Ở Karnak cũng thế, trong căn phòng to rộng với hơn 134 cái cột giống hình những cây sậy, xây dựng bởi Seti I, trần nhà cũng chi chít cartouche của con trai ông bởi Ramset II thi công trang trí. Còn Cartouche là gì ấy hả? là cái hình oval có các chữ tượng hình ( con chim, con cú, con rắn, cái lông, đại loại thế) để thể hiện tên hiệu của Pharaoh. Căn phòng này vốn được xây dựng để làm nơi cho các Pharaoh biểu dương sức mạnh của mình. Pharaoh phải chiến đấu với mãnh thú vài ba lần trong cả cuộc đời vua chúa của mình (Có thắng được mãnh thú mới chế ngự được lòng dân). Lần cuối cùng thể hiện mình của Ramset II là khi ông 80 và ông phải đánh nhau với một con cá sấu sông Nile. Với sự tài tình nào đó, con cá sấu chết còn Ramset II sống tới tận năm 90 tuổi ( có lẽ là con cá sấu 2,3 ngày tuổi).

Những hàng cột chi chít cartouche

Đi sâu hơn vào bên trong Karnak, nữ quyền in dấu. Khoảng sân rộng với những cột obelisk hay tượng Pharaoh như xác ướp của nữ hoàng Hatshepsut uy nghi. Obelisk không chỉ tượng trưng cho sự sùng bái thần thánh mà đơn giản giống như biển báo ¨Ở đây có một cái đền¨. Hatshepsut cho bọc hợp kim vàng hai Obelisk để chúng sáng choang một góc trời. Một obelisk cho cha mình, còn cột còn lại cho vị cha tối thượng Amun. Như tất các cả Pharaoh nam khác, Hatshepsut luôn tự coi mình là con gái của thần. Hẳn cũng vì cái sáng choang ấy mà khi con rể của Hatshepsut lên ngôi, hắn cho xây tường bao quanh để che dấu đi sự xấu hổ của dòng tộc (Lonely planet thì bảo hắn cạo sạch hợp kim vàng). Thời gian phủ bụi lên Obelisk, đập đổ tường vây. Một Obelisk lộ ra chẳng còn sáng lóa, một cột Obelisk gục xuống vẫn bóng nguyên màu granite. Hatshepsut dù bị hạ bệ, vẫn được ghi nhận thân phận đế vương cùng những dấu tích chẳng thể tàn phá bởi Thumose III hay cát bụi thời gian.

Cát bụi thời gian chỉ che phủ hồ nước xưa kia các thầy tu tắm mình ngày hai lần để thanh khiết cơ thể (không phải tắm bùn thì sạch là đúng rồi). Ngày nay hồ không còn, thầy tu cũng chẳng có, chỉ chệm trễ một cột đá diệu kì. Tôi vẫn chưa biết vì sao nó kì diệu nhưng nghe đồn là nếu đi vòng quanh nó 3 vòng sẽ trở nên giàu có, 7 vòng sẽ tìm thấy tình yêu, còn 50 vòng tôi đoán là sẽ thành tour guide. Tôi với Trang, Vân cũng cố kéo nhau đi hết 7 vòng (không dám đi thừa một bước chân), năm nay mà không có gì xảy ra thì người Ai Cập sẽ bị chất vấn về vụ này.

Khu vực hồ kéo thẳng ra cánh cửa phụ của đền, nơi gần ngay cảng sông Nile. Hàng năm khi lễ hôi Opet diễn ra, hàng đoàn thuyền sẽ được điều động tới, đưa rước thần Amun cùng lễ vật tới thăm vợ thần là thần Mut ở đền Luxor. Nghe cũng hao hao cầu ô thước với Ngưu Lang, Chức Nữ. Chỉ khác là cả đi và về Ngưu Lang đều phải leo cầu quạ, còn thần Amun khi đi tàu biển, lúc về ngão nghệ thuyền mặt trời với nhiều người khiêng, vượt qua 3km đường nhân sư để về lại Karnak.

Đền Luxor nhỏ bé hơn Karnak nhưng cấu trúc tương tự với cổng thành, hàng tượng nhân sư bên ngoài , khoảng sân rộng thờ cúng và obelisk ở  lối vào. Trước đây Luxor có 2 obelisk đối xứng, nhưng một ngày Mohamed Ali nổi hứng nhổ bật một cái đi tặng người đẹp, thì chỉ còn lại một obelisk rất sáng giá và đáng được yêu thương. Không yêu thương sao được khi đền Luxor bé nhỏ này đã từng bị chôn vùi bởi cát sa mạc, bị đốt cháy bởi Thiên chúa giáo, bị phá nát bởi người ả rập. Bầm dập vậy mà đền vẫn đứng rất hiên ngang, ôm đầy sự lộn xộn.

Khi bước vào đền, đập vào mắt là sự chềnh ềnh của mosque hồi giáo ( dù là phần được thêm vào cuối cùng nhưng lại được nhận ra đầu tiên). Không phải người Hồi giáo không trân trọng tác phẩm cổ đại này, họ chỉ ngây thơ nhiệt tình thành vô tình phá hoại. Khi Nile dâng nước lên,  phù sa phủ ngập, rồi gió cát sa mạc tràn lên, giấu kín ngôi đền trong câm lặng. Người hồi giáo tới, bắt tay xây dựng nhà nguyện của họ trên mảnh đất bằng phẳng này. Bình yên cho tới một ngày họ thấy có những tượng đầu người trồi lên khỏi lớp cát. Không chịu được sự phiền phức này, họ chém tan mấy đầu tượng mà không ngờ rằng bên dưới đó là thế giới kì vĩ.

Những bước tượng câm nín. Nhưng sự ngoi lên của chúng cũng gây chú ý của cả Ai Cập. Đào xới bới móc vốn là việc dễ dàng nhất ( trừ ngành khảo cổ). Họ đưa lên cho thế giới cả một đền đài nguy nga, với 10 tượng Ramses II khổng lồ cả đứng cả ngồi, đội mũ miện hay mũ chiến tranh ( mũ chiến màu xanh, mũ miện màu trắng đỏ là sự kết hợp của mũ trắng của vùng hạ và mũ đỏ của vùng thượng ai cập). Chen giữa những cây sậy đá cao lớn, kể cả những tượng mất đầu vẫn đẹp nguyên sự oai hùng. Sau lưng người con thần Ra, tượng của Amenhotep III, của Tutankhamun cùng vợ, và một căn phòng hàng trăm cây cột như một hồ sậy đá nở rộ.  Thật là phục ý chí dựng cột của dân Ai Cập.

Họ dựng cột, dựng đền, dựng cả huyền thoại. Đền Luxor có 3 gian chính. Gian cuối dành làm nơi ở của các vị thần khách khứa trong lễ Opet, nhưng đã bị Alexander đại đế chen ngang, xây ngay một buồng nhỏ ở giữa phòng để dâng tặng thần Amun ( không hiểu vì sao vô duyên thế). Gian phòng này nằm ngay sau gian phòng của vợ chồng thần Amun. Còn gian ngoài cùng nơi chứa thuyền mặt trơi, có thời bị dân La Mã chiếm cứ. Khi trốn chạy khỏi chính quyền, họ nghĩ nơi nguy hiểm nhất là nơi an toàn nhất, nên đã cho bịt kín một căn phòng trong đền làm căn cứ. Họ trang trí tường và trần phòng bởi hình ảnh chúa jesu với các thiên thần. Khi không thể ra ngoài, thì người La Mã đốt lửa nấu nướng luôn tại đây. Căn phòng linh thiêng trở thành một cái bếp ám khói. Qủa là (đàn ông) Ai Cập xây đền, (đàn bà) La Mã xây bếp.

Về tổng thể đền Luxor là sự kết hợp tôn giáo kì lạ của hồi giáo, thiên chúa giáo, lễ giáo ai cập. Hiếm nơi nào các tôn giáo xa lạ lại cùng chung sống hạnh phúc như thế. Dù hiện hữu dưới hình dạng chúa Jesu, đức Phật hay thánh Ala thì chúng ta cũng chỉ có một đấng toàn năng. Thật không có gì sai trái khi dành tình yêu và niềm tin cho tất cả các hiện thân của người. Kể khi chúa bắt loài người phải chết vì tội lỗi xưa cũ của Adam và Eva thì cuộc sống tươi đẹp vẫn cần thật nhiều niềm tin.

Bầu trời xanh đã xóa nhòa sang tím đậm, sang đen. Khi trăng non ló rạng trên đầu con trai thần Ra, bóng đêm bao trùm cả Luxor. Một ngày đã hạ xuống nơi các vị thần, rồi sớm mai lại rạng ngời nơi các pharaoh. Sớm mai trên khinh khí cầu, tôi sẽ ngắm một bình minh.

One thought on “Luxor những đền đài thời gian

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s