Hũ mỡ lợn

Pork_rind2

Tóp mỡ (wikipedia)

Người đàn bà quê cho một miếng mỡ lớn to bự vào cái chảo sâu lòng,  treo trong cái lò sưởi cũ của một căn nhà lụp xụp. Khi mỡ sôi già, bà múc từng muỗng bột cho vào chảo. Miếng bột co lại, săn chắc, mang dáng hình miếng bánh. Rồi nó phồng lên dưới sự áp chế của chút bột nở trong hỗn hợp. Nó phồng lên chút nữa rồi chững lại. Mặt dưới đã vàng, mặt trên còn ướt, bà lật miếng bánh. Miếng bánh xìu đi một chút, nhìn vẫn xốp mềm nhờ những quả trứng gà nuôi. Mùi thơm của vanile, của trứng, của bột mì chín, của mỡ lợn tỏa bay khắp phòng.

Hai thằng bé ngồi trên bàn thòm thèm. Một trong hai đứa nó đã đợi khoảnh khắc này rất lâu rồi. Mỗi khi nằm đường đói khổ nó đều mơ về chiếc bánh rán phồng. Nó nhớ bánh nhiều như nhớ người mẹ quê. Thằng kia chảy cả nước dãi, nghĩ tới cảnh cắn phật vào chiếc bánh, lút cả chân răng. Nó đang liếm liếm môi. Rồi bà mẹ đứng dậy, chìa cái đĩa đã đầy ứ mẻ bánh phồng chín ruộm màu cánh gián, vừa thơm vừa mềm. Thằng Rémy chìa tay ra đón, chia cho bạn, rồi 2 đứa nhai nuốt ừng ực tình thương người mẹ. Lũ trẻ vừa ăn, vừa liếm chút mỡ lợn ở môi, ở đầu ngón tay. Người đàn bà quê lấy tạp dề chấm mắt. Nhà nghèo chỉ có vậy.

Tôi đang kể lại theo trí nhớ một đoạn trong Không gia đình. Tôi đọc Herto Malot từ hồi học lớp 8, là quyển sách chữ đầu tiên đọc sau những xấp truyện tranh Nhật Bản. Vì là truyện đầu nên nhớ kĩ, nhớ nhất vụ bánh rán phồng của mẹ Rémy và vụ ông khỉ ho mãi để đòi kẹo, ho tới chết. Mẹ Rémy ở quê nghèo, còn dùng mỡ lợn, giống mẹ tôi, bà tôi, đất nước tôi ngày xưa.

Thời đấy, trong bếp nhà ai cũng có hũ mỡ lợn. Bà gác hũ mỡ lên giá trên cái bếp tro ba càng, còn mẹ thì cất trong chạn bát bằng gỗ, 3 tầng, có lưới sắt. Hũ đựng mỡ làm bằng sành màu vàng đậm, có đường vân, chỉ nhỏ bằng cái bát tô, nhưng có nắp đậy. Bên trong, mỡ lợn mới nấu còn nóng hổi, sóng sánh vàng cánh rán, ở dưới có chút cặn đen, hoặc hũ mỡ để qua ngày đã đông đặc, màu trắng ngà, nhìn như sáp nến nhưng có mùi thơm quyến rũ. Cứ ngửi mùi mỡ lợn đông là thấy thèm ăn cơm.

Thời xưa, lợn còn ăn cám, ăn những thứ rau còn sạch, mỡ rán còn ngon, thịt lợn còn săn, mua về luộc lên thơm lừng. Bố mẹ thích ăn thịt ba chỉ luộc với mắm, chuối xanh, khế chua, và rau mùi. Bây giờ thì thịt về rửa chục lần, luộc đổ 2 lần nước, hết cả ngọt mới dám ăn mà cái mùi nó vẫn nồng nồng. Ăn vào cứ sợ có thuốc tăng trọng, cảm giác hồi hộp, run sợ, cam go như đưa đầu vào thòng lòng. Miếng thịt đi xuống dạ dày an toàn, ngày sau không thấy thở gấp, nôn mửa tức là đã quá khỏi vòng đầu của trận chiến thức ăn. Bố than thở ¨Thịt đã chán, tới khế cũng chẳng còn chua. Cái thứ ngọt nhờ nhờ này có gì mà thích¨.

Bố thì chỉ thích nhắm rượu với tóp mỡ. Mỡ lợn mẹ mua về thường được lọc rất khéo rồi nhưng vẫn còn ít thịt hồng hồng dính ở dưới. Cô pha thịt chắc đi trật một đường dao. Mẹ thấy thế là hài lòng và hời lắm ( không hiểu cô có tính thêm tiền mẹ cháu không???). Mỡ ấy cắt thành từng miếng bé tí ti để rán chóng ra mỡ. Sau đó mẹ bắc cái chảo gang Liên Xô ông mang về lên bếp than. Đợi chảo nóng, mà không quá già thì cho mỡ vào, không thì mỡ dính đáy ngay, lại còn nổ tung mặt.

Mỡ cho vào nghe tiếng xèo xèo thật thích. Vài giây sau có những giọt mỡ lăn tăn nổi lên bề mặt miếng mỡ cứng. Rồi miếng mỡ mềm ra, có những tiếng tanh tách, lốp bốp, nó đang săn lại, teo lại. Màu trắng chuyển sang ngà ngà, rồi vàng, rồi nâu nhạt, lẻo thịt dính bên dưới đã cong lại đậm màu. Lúc này chảo lênh láng dòng mỡ lỏng, còn tóp mỡ thì trôi lơ lửng phía trên. Mẹ canh lửa không cho tóp mỡ teo quá ăn khô, mà cũng không non quá ăn ngán. Rồi mẹ lấy đũa gắp từng miếng, nên sẽ có những miếng hơi xém, sau này có cái muôi lỗ thì khỏe hơn nhiều.

Bà hay cho tóp mỡ vào cái bát hơi loe, trắng sứ cũ, có họa tiết hoa hơi xanh, sứt một miếng ở mép ( vì bát đó sứt không nên và cơm, chỉ nên đựng nước mắm, cà muối hay tóp mỡ). Mẹ đựng tóp mỡ trong bát xứ Hải Dương màu trắng đục, có viền hoa đào nhạt, sau đó đặt ngay ngắn giữa mâm cơm, cạnh bát nước mắm Thanh Hương. Mẹ ới 1 tiếng, con lon ton ra trải chiếu giữa nhà. ¨Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng, vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông¨. Dù quê bố ở Nga Sơn, lúc nhỏ đi về vẫn băng qua những cánh đồng cói xanh tươi, cao quá đầu, nhưng nghề dệt chiếu đã mai một. Chiếu giờ không còn dày đẹp, bền nữa nên mỗi năm 2 lần Tết, hè, ông lại ra Phát Diệm mua đôi chiếu mới. Chiếu chỉ màu vàng nhạt, hai đầu dệt sợi đỏ, nằm mấy năm không rách, chỉ mỏng đi. Tới khi chiếu sờn thì cho xuống làm chiếu ăn cơm. Cả nhà bữa nào cùng bầy nâm lên chiếu ngồi.

Bố lấy chai rượu quốc lủi ở quê nấu. Nhà bác thằng Linh nấu rượu mấy năm nay, bà hay đặt từng can 5 lít rồi gửi xe ra cho bố, hoặc mẹ mua của bà Hoằng Hóa lưng còng gánh rượu. Bố nhắm rượu với tóp mỡ và lạc rang. Con ngồi ké bên ăn tóp mỡ tì ti, mẹ phải ngăn lại sợ không ăn được cơm. ¨Lớn lên cho bố mấy gù rượu¨, ¨3 gù¨. Rồi cầm bát cơm lên, gắp miếng thịt, cho vào bát, sao đó cho vào miệng cả miếng. Bố dặn: người lịch sự không cho thẳng vào miệng, phải cho vào bát, ăn thịt cả miếng, cấm cắn, nhai phải ngậm miệng, đừng như mẹ mày.

Mẹ thì à uồm, ăn sao thì ăn, miễn là béo. Mẹ chỉ cần: rửa tay trước khi ăn, ngồi vào mâm phải mời, không được bốc tay khi có khách, hay nhón trộm trong bếp, thế là xấu lắm. Trời mưa, mẹ thích làm bánh. Mẹ trộn bột mì với trứng, đường chứ không với bơ sữa, vani như mẹ Rémy. Rồi mẹ rán hỗn hợp ấy lên thành những chiếc bánh rán tròn tròn xinh xinh. Bánh ăn vừa mềm và thơm. Bác Lịch còn dạy cho thêm ít vừng vào nữa, ngon vô cùng. Sau này mẹ còn hay cho thịt băm vào làm bánh mặn. Bánh thịt băm thì mẹ không bỏ trứng cho cái viền bánh ròn tan. Tôi với thằng em chầu chực, ăn hau háu. Sau này lớn, làm cho nó ăn, nó vẫn thịt mê, nhưng thấy không ngon bằng. Chẳng còn mỡ lợn để rán thơm lừng.

Hồi bé, 2 chị em tôi thân với em Trang. Bố mẹ ly dị nên em khăng khăng đòi bỏ họ Lý, theo họ mẹ. Em thích ăn cơm nóng với nước mỡ dưới vào, trộn muối và tiêu. Em bảo thế là ngon lắm. Nhìn miệng em ăn tròn vo, mỡ loe ngoe xung quanh, môi bóng nhẫy thì ai cũng thèm. Chị Ngọc bắt chước ăn, thấy cũng ngon. Buổi chiều, chị hay ngồi ở cái hè trước nhà, ăn cơm trộn mỡ, còn cô Dung dùng cái lược dày chải chí cho chị. Tôi cũng ngồi ở hè, mẹ chải chí cho. Hồi đấy bọn trẻ con đi mẫu giáo đứa nào cũng bị chí. Các mẹ hè nhau ra chải rồi cho lên miếng cắn rôm rốp, hoặc thả xuống cho nó chạy vòng vòng, sau đó lấy móng tay phộp phộp, rất thích thú. Tôi thì chỉ thích thú bát cơm mỡ của chị Ngọc mà mẹ chẳng bao giờ cho ăn.

Tôi vẫn nghĩ bát cơm như thế ngon lắm, dù chỉ được ăn ké em Trang 1 miếng. 1 miếng mới nhớ cả đời. Giờ mọi người bảo nhau: ăn mỡ lợn không tốt cho sức khỏe, nhiều cholesterol, nên xài dầu thực vật. Nhưng chẳng dầu thực vật nào cho miếng nem vàng ruộm, giòn tan như rán mỡ gà hay mỡ lợn. Chẳng dầu thực vật nào cho cái hương thơm đói bụng như chảo chiên bánh rán chuối mùa đông.  Ôi, mỡ lợn, em đi đâu mất rồi?

Món ngon xứ Bồ

Trước khi tới Bồ, tôi chỉ biết có hai điều: hải sản và bánh trứng.

IMG_6459

Khi đi về vẫn chỉ biết chừng nấy nhưng dư vị thì âm ỉ tới hàng chục ngày sau. Ví dụ hôm nay tròn 1 tháng ngày trở về từ Bồ, tôi đang ngồi hì hục gõ máy, trên bếp lũ cá cơm nhảy múa trong chảo dầu sôi sùng sục, con cá cong lưng vàng dòn tới từng đốt xương. Con cá hố trong tủ lạnh tha thiết đòi vào nồi kho với thịt ba chỉ. Mùi thơm chiên rán ngao ngát nhà. Kỉ niệm ngày ở Bồ ăn toàn cá và cá.

Bọn tôi giống lũ mèo vậy: thích ăn cá, thèm cá, mơ về con cá tới mức đặt tên biệt đội mình là Bacalhau – biệt đội cá tuyết, gồm: tôi – cá tuyết ( lớn nhất nên nhanh mồm dành tên đẹp), Giang-cá kiếm, Phương-cá trích, Khánh- cá mòi, em Mai là con mực.

Đêm đầu tới đây, ở cái hàng mà toàn tiếng Bồ ấy, tên Jã Fumara sặc mùi nướng khói, tụi tôi được ăn những món mà bác muối tiêu bảo là đặc sản Lisbon. Cái mâm ăn đầy ú ụ gồm cá hồi nướng hồng, cá tuyết nướng vàng, cá kiếm hoặc cá chim chiên lên, ăn kèm khoai tây bé nướng nguyên vỏ, đẫm trong lớp dầu olive sóng sánh và ít cải xanh lá nhũn. Cá ở đây tươi ngon, được nướng rồi phủ muối lên sau nên thấm không đều. Cá mằn mặn vị muối nguyên chất, được ăn kèm bánh mì hơi cứng và sangria tươi mát. Khoai tây tròn xoe ngọt lịm, bùi mềm và rau cải ngai ngái mềm mượt, ăn thật đã miệng.

Đặc sản nhất là món cơm nấu với tôm và cá tuyết, trong nước sốt, kèm chút xanh xanh của rau persil (tôi chúa ghét rau này). Món cơm rất vừa miệng, hợp chuẩn châu á. Còn Sangria ở đây khác hẳn nơi khác, thay vì cho đá thì họ cho hỗn hợp quả rừng: mâm xôi, dâu tây, quả cassis đóng đá. Khi lắc mạnh, đá từ các quả cây làm lạnh mờ bình rượu.  Trái cây mềm ra, cho vào lưỡi đã kịp nhũn nhưng vẫn giữ được cái man mát như ăn kem hoa quả. Đặc biệt họ cho thêm lá bạc hà, chanh miếng bên cạnh quế hồi như mọi khi. Hương chanh xanh dịu mát quyện với hương tươi the của bạc hà mang tới sự phấn khích tỉnh cả người. Đủ sức cho biệt đội đi chơi xuyên cả đêm. Sáng hôm sau dậy còn sức đi mua sắm tung trời.

IMG_5791

IMG_5785IMG_5780 

Sau 1 buổi sáng mua sắm tưng bừng, em Mực đã đuối như quả chuối, khẩn thiết ¨Chị ơi, đi ăn đi mà¨. Chị bán giày tốt bụng liền chỉ cho 1 quán ăn, theo lời chị là vừa ngon vừa rẻ, tên Don João ( bọn mình có trò là không bao giờ tra địa điểm ăn ở internet mà toàn đi tới đâu hỏi người dân ở đó, cho an tâm ngon bổ rẻ và không có mùi tiền bạc PR). Khi tới nơi đứa nào cũng đói meo, nhìn thấy trên bàn la liệt các loại bánh mì, cùng quả olive ngâm và ít phô mai thì lao vào khai vị ngay. Dù biết mấy thứ bày trên bàn này luôn có mặt ở đó, để câu khách, ăn mất tiền chứ không phải cho không như ở Pháp, nhưng đói quá thì cái tay chẳng còn biết gì, ngoài đưa lên miệng. Olive ở nhà hàng này là olive ngon nhất mà tôi từng được ăn. Từng quả olive không hạt, đen bóng, phủ lá húng khô lên, ăn sao mà bùi và ngon thế. Vừa ăn olive vừa nhấm sangria thấy đời quá là sướng.

IMG_5986 IMG_5990

IMG_5993 IMG_5995

IMG_5997  IMG_5998

Ở Don João, món khoai tây được lột vỏ, hấp lên rồi nhúng vào dầu olive như thường lệ. Người Bồ tưới dầu olive lên mọi món ăn, nhìn vừa mượt, vừa tốt cho sức khỏe. Khoai tây thì thay vì chiên lên như Pháp lại thường nướng hay hấp nên ăn không nơm nớp sợ béo phì. Món mực nướng của nhà hàng này tuyệt vời, vừa giòn vừa ngọt, mặc dù không dày mình như mực Việt Nam. Cá tuyết nướng sốt cùng ngao vừa bớt mặn, vừa được hưởng cái nước ngọt chảy ra từ con 2 vỏ này. Trời ơi, còn món cá trích nướng thì không còn gì để nói. Thật không gì có thể nói hết cái thèm thuồm với cái cảm giác beo béo, mềm mềm trong miệng khi đưa con cá trích vào. Mỗi bạn 1 con mà cứ nhìn nhau hau háu, biết thế này là không đủ. Nhưng còn món bít tết đặc sản Don João to đùng nữa nên chẳng mấy chốc đã no không thở.

Bít tết nướng rồi cho vào sốt kem, olive, đặt trên một miếng trứng ốp hồng đào, kèm khoai tây chiên. Bít tết không bị khô , không giống như được nướng mà như được hấp lên vậy, nên ăn nhanh ngán. Tôi thích loại bít tết Pháp nướng sơ, cắt ra còn chảy máu, miếng thịt đỏ dai, ăn lên ngọt lịm, cảm giác như mình là Dracula ăn tươi nuốt sống ấy. Nhưng ở Bồ Đào Nha thì cứ đặt niềm tin và hy vọng vào cá thôi.

IMG_6000

Cá ở Bồ Đào Nha rẻ và đa dạng. Khi bác già tốt bụng ở quán gần khách sạn dẫn vào tủ thì tôi cứ chỉ bừa mà không biết con cá hồng hồng ấy tên gì, chỉ biết thịt nó chắc, xớ thịt trắng, ăn nhàn nhạt. Ăn cá kèm 1 chai vang trắng Ponte do Arquinho, chỉ thấy rượu rất ngon, đến nỗi bác tốt bụng phải cho thêm chai nữa cho cả lũ thỏa cơn, thế mà khi tính tiền chỉ có 7 đồng. Hôm đó chúng tôi quyết định ăn thử chút thịt ở đây. Tôi chọn xiên thịt nướng hỗn hợp bò lợn, tôm mực. Một xiên khác là thịt gà. Và cuối cùng là món xúc xích bồ đào nha, giống như thịt luộc bị xé ra, trộn bột, nhồi vào, rồi chiên xù cho thật vàng, ăn vừa bồn bột vừa ngán, thật là thất vọng ấy.

Cảm giác giống như ăn món Francesinhas – mệnh danh là 1 trong những món sandwich ngon nhất thế giới ( dù thua xa bánh mì việt nam). Món ăn này bắt nguồn từ 1 người Pháp, ông ấy mang món Croque Monsieur nổi tiếng của Pháp sang rồi chế lại thành Francesinhas. Francesinhas là bánh sandwich có nhiều loại thịt được kẹp giữa 2 miếng bánh mì trắng như jambon, thịt bò bít tết và salami. Sau đó họ phủ miếng phô mai lên, rưới  nước sốt, bỏ lò cho phô mai chảy ra bao phủ cả bánh. Bên trên đặt thêm miếng trứng ốp la, nhìn rất hấp dẫn bắt mắt. Ăn vào, thấy bánh mì kèm sốt mềm nhũn, vừa vị, nhưng tôi vốn xưa nay ghét sandwich và hamburger nên ăn chỉ để cho biết. Thấy món này quá phức tạp và ngán tận cổ. Chỉ có hải sản là đáng ăn thôi.

IMG_6178 IMG_6174

Chứ món cơm mề gà chỉ có vị muối và hay món Tripas thì thật ngán. Bọn tôi thưởng thức 1 thứ gần như Tripas, được nấu từ đậu trắng, sốt olive, kèm cá xay chiên xù. Chẳng có gì đặc biệt, nhưng quá tuyệt cho bữa ăn chỉ 5e: ngập rượu, tràn súp bí ngô ngon còn chưa kể chút ngọt ngọt của rượu Dourito được mời cuối bữa ăn, làm cho cả chiều ở Porto của tôi thật lâng lâng, thích thú.

 IMG_6289IMG_6288

Tất cả vị ngon của Porto chỉ trở lại trong hoài niệm từ Matosinhos, vào chiều chủ nhật đó. Khi IMG_20130922_202417ba em cá của tôi đã về Paris, chỉ còn bạn cá Tuyết và bạn cá Kiếm quyết tìm đường ra biển. Bãi biển đầy cát của Matosinhos trải dài tới tận hoàng hôn. Có làn khói bay thơm lựng trời chiều. Chiều chủ nhật đìu hiu, các nhà hàng đã đóng cửa, chỉ còn một nhà hàng mang lò nướng hồng rực ra sân. Những con cá trích xanh mướt, phủ muối hột trắng, trên lò lửa hồng, khói bay nghi ngút. Những con cá theo khói nhảy tách lên đĩa tôi, còn đĩa bạn cá Kiếm một em cá Dorada rán giòn tan nằm úp xương. 2 bạn lác cả mắt, sao ăn hết được bây giờ, khi mới nửa phút trước đã chiến xong lọ paté cá ngừ trên cả tuyệt vời và bánh mì.

IMG_20130922_203510 IMG_20130922_201834

Chút nữa thì quên, món bánh tart trứng Pastel de nata cũng rất nên ăn đấy. Bánh trứng mềm, ngọt như bánh flan, có bề mặt nướng hơi khô và vỏ giống bánh tarte của Pháp. Ăn bánh trứng uống cafe ở Bồ Đào Nha phổ biến giống như ngồi ăn croissant với cafe ở Pháp vậy.  Bánh ngọt ở Bồ không có gì đặc biệt, ngoài Pastel de nata. Thật đấy, em Cá Mòi mê tơi món này. Các em cá của tôi bây giờ suốt ngày ngồi nhớ nhung ¨Chị ơi mình đi Bồ tiếp đi, đi ăn cá, đi mua giầy¨. Ừ, miền nam nhé, Algrave chẳng hạn, nắng vàng, biển xanh và núi đá. Dạ, để Mai tính ( để thầy tính và để tiền tính 😦 ) 

Những quý ông Bồ Đào Nhà

Các bạn nói ¨Ý¨, tôi kêu ¨Nhà thờ¨

¨Pháp¨ – ¨Tiệm bánh mì¨

¨Bỉ¨  – ¨Louvain la neuve¨

¨Đức¨ – ¨Bia¨

¨Hy Lạp¨ – ¨Pierre¨

¨Thổ Nhĩ Kì¨ – ¨Kumpir¨

¨Tây Ban Nha¨ – ¨Gaudi¨

Thế ¨Bồ Đào Nha¨ , à ¨Qúy ông¨

Đơn giản đó là ý nghĩ đầu tiên bật lên trong đầu khi nghe về những đất nước này. Ở Ý có nhà thờ, Pháp có bánh mì, Đức có bia, Tây Ban Nha của Gaudi hộ mệnh, ở Hy Lạp thì có quá nhiều thứ để nhớ, nhưng ấn tượng nhất sự ẩm ương của thằng bạn Pierre. Thổ Nhĩ Kì tôi kết nổ mắt món khoai tây nhồi đủ thứ lạp bí lù tên Kumpir, ngon sao mà ngon. Ngon như món cá trích nướng muối trên than hồng ở Mantosinho, Porto. Ôi Bồ Đào Nha. Có một đất nước lại tuyệt vời thế nhỉ, đẹp, ngon, bổ, rẻ, và con người. Những quý ông ở đây trên cả tuyệt vời.

Nếu bạn tìm hình ảnh các bác đầu muối tiêu, cằm chẻ, nước da nâu khỏe khoắn, mặc veste, xách ca táp, giầy bóng lộn, trong túi áo ló ra cái khăn mùi xoa lụa bóng thơm lừng mùi Allure và gọi đó là những quý ông. Thì chắc chắn bạn chẳng tìm được ở Bồ Đào Nha đâu, tôi đang tả Geogre Clooney ấy mà. Ở Bồ Đào Nha, cái đất nước nghèo khổ ấy, chỉ có những ngôi nhà lụp xụp, tường tróc vách, những người đàn bà mang ghế ra ngõ buôn chuyện chiều, những người đàn ông tụ tập nơi quán nước. Họ đều có khuôn mặt hiền hậu, có thể nghèo nhưng vô ưu. Ai từng gặp họ đều nhớ, đều thương.

Ngày đầu tới Bồ Đào Nha, tôi nghỉ trong hostel tên Salitre, là một tòa nhà cổ, có cái cửa sắt to huỵch, rắn chắc , cao tới 3m. Tòa nhà tọa lạc giữa vô vàn những ngôi nhà cũ kĩ ở 1 con phố be bé, với gạch lát đường trơn bóng, nếu mưa xuống chắc trượt như đi trên dầu nhớt xe máy. Nhưng hôm đó, đêm tháng 9, là đêm sau trung thu, trăng 16 sáng hơn trăng 15, con đường phản lên thứ ánh sáng vàng rực rõ. Trăng ở ngay chính giữa hẻm, cảm giác nó treo ngay đầu con dốc. Cả lũ mon men, kéo va ly quèn quẹt cố tìm cho ra cái hostel trên đỉnh dốc. Lisbon thật vất vả, thành phố xây trên những ngọn đồi nên nhấp nhô, lên rồi xuống, đi đến mệt. Mồ hôi tướt mướt cái áo blazer là lúc tới được chân hostel, hấp hối kéo cái valy lên thì gặp một anh Bồ thật tri thức hết cả mệt. Anh đeo kính, đẹp trai vừa phải, dễ thương vừa đủ, vui tính hơn mức yêu cầu. Anh thấy mấy con nhễ nhại, bộ mặt đói khát thì nhanh nhẹn chỉ cho 1 cái quán thật Bồ.

Cả lũ mò tới quán chắc cũng hơn 10h đêm. Quán gì mà ngóc ngách bí hiểm, nhỏ xíu xịu nhưng bên trong lại nhiều bàn hơn tưởng tượng. Bác bồi già đẹp lão tầm 50 tuổi, cao lớn, khi đi lưng thẳng, ngực vươn, tóc hoa râm, húi gọn gàng, tay cầm đống Menu. Menu tiếng Bồ hoàn toàn, không hình vẽ, tôi hoa mắt chóng mặt, trong lòng đánh trống tưng tưng ¨Sướng quá, oách ghê, được vào nhà hàng Bồ xịn rồi¨. Nhìn cái đống chữ không hiểu gì mà lòng vui sao. Bác bắt đầu bằng thứ tiếng Anh lõm bõm rồi sau chuyển qua Pháp bập bẹ bởi các cô gái đi cùng tôi dùng thứ ngôn ngữ này. Sau cùng, khi mà 2 bên không đi tới tiếng nói chung, cuộc đàm phán kết thúc bên cái tủ cá. Bác dẫn cả lũ vào xem cái tủ kính cá, thịt bò, thịt lợn tươi rói, rồi bắt đầu chỉ mặt đặt tên từng loại. Còn tụi tôi thì chỉ việc chỉ con cá này hay con mực kia. 5 đứa hí hửng gọi sung sướng, nhưng bác lại trấn cơn kích động giá rẻ bằng lời nói chân thật: ¨5 đứa gọi 4 món thôi¨, rồi lấy tay qươ qươ tả cái đĩa đồ ăn bự lắm. Cả lũ quay sang nhau ¨Trời, sao dễ  thương quá vậy¨.

Thức ăn mang ra đẹp hơn mong đợi, tươi rói và thơm lừng. Mực giòn, tôm đỏ, cá tuyết nướng, tất cả đều rưới sốt dầu olive kèm ít rau cải. Cá tuyết có phần mặn mòi hơn do con cá này đánh bắt xa bờ, khi về phải ướp cả tấn muối ( hi vọng không ướp phân đạm). Cả lũ vừa ăn vừa uống Sangria ừng ực cho đỡ khát. Cứ 5ph bác muối tiêu lại tới hỏi ¨Ăn ngon chứ, ổn không¨ làm cả lũ xúc động vô cùng. Sau bữa ăn long trời lở đất, thì các bạn tới quầy thanh toán. Tại đây có một anh trai áo trắng đứng quầy và em giai trẻ, tóc xoăn, da bánh mật, người Bắc Phi. Em cười tươi, răng trắng, tay thoan thoát lau cốc, miệng liến thoáng hỏi tên mình, rồi giới thiệu tên em. Sau đó em nhìn qua anh áo trắng, rồi nhìn lại mình rồi ra dấu hiệu ghi ghi, như kiểu cầm bút ghi số điện thoại thì tôi chột dạ ¨Chết cha, gây nhớ thương rồi sao?¨. Tôi còn loay hoay lo lắng thì em lùi sang bên cho anh áo trắng ló ra ¨Em à, tụi em trả thiếu 50 cents¨, hóa ra lúc nãy em ấy ra hiệu chỉ cái hóa đơn. Trời ơi, sao mà nhục. Được cái anh áo trắng cũng dễ thương, cười rõ tươi  khi tôi đưa hẳn đồng 1e cáu cạnh.

Cả ngày hôm sau ở Lisbon 5 đứa con gái chỉ quanh quẩn mua giày và dép mà đi cả ngày trời cũng không tới được khu Alfama. Thành công lớn nhất là mua quá nhiều đồ, thành công lớn thứ 2 là vào được một quán ăn tên Don Jõao, nơi cũng có chú phục vụ tận tâm, và đồ ăn thì vừa vị vô cùng, nhất là món cái trích nướng ấy. 1 đĩa bình thường chỉ có 4 con, tụi mình có 5 đứa mà chú cũng xin nhà bếp làm thành 5 cho các bạn thoải mái chia nhau. Con cá trích xanh dài, da bóng bạc, ăn kèm sốt olive béo gì đâu. Còn cái quả olive ngâm của nhà hàng ấy nữa chứ, xanh thẫm, ngòn ngọt, bùi bụi, lại ngầy ngậy. Cái đường ăn uống thật là thăng hoa.

Như chuyện đêm hôm ấy, khi đang đói khát, quán ăn trong trung tâm đều đắt, sang chảnh thì cả lũ quyết định về gần nhà ăn cho lành. Trong cái ngõ nhiều ánh trăng, có nhà hàng trông rõ thường nhưng giá rẻ, cả lũ bấm cửa xông vào. Bác chủ quán đậm người, bụng hơi to chạy ngay ra, mở cửa, rồi bác bối rối như bao người Bồ khác về chuyện hướng dẫn món ăn. Bác lại lôi vào bếp chỉ thức ăn tươi sống cho tụi mình chọn. Khi 4 cái đĩa bốc khói bê ra thì cả lũ đã đói mềm. Bác còn giữ đĩa cho em Phương chụp ảnh. Bác hướng dẫn gọi 1 chai vang của nhà hàng để uống cho khí thế. Uống nhanh tới mức, sau 2 lượt châm, em Khánh dốc chai chẳng còn giọt rượu nào. Nhanh như phốc, bác chủ quán lao ra, trên tay cầm 1 chai rượu ướp lạnh đầy 80% ra, lanh lẹ tiếp rượu 5 đứa. Bác cười và không nói gì. 2 bên cứ nhìn nhau cười trìu mến ¨Obriado¨ (cảm ơn) lặp đi lặp lại. Sau đó khi bữa tiệc gần tàn, thì bác chủ quán lại từ đâu lao tới, trên tay là đĩa cá tuyết ( đặc sản xứ này), bác đặt giữa bàn mời cả lũ thưởng thức. Lúc này thì cả lũ nói không nên lời. Bụng đã quá no mà không thể phụ tấm chân tình của bác, cả lũ cố nhắm mắt đưa tay ăn cho gọn. Vừa vui vừa buồn cười, chảy cả nước mắt. Sau đó thì tụi mình lôi ngay cái postcard ra viết cho bác những dòng thấm đượm thương yêu. Bác mặt đỏ gay, nhìn thật hiền, trông đầy hạnh phúc, cả những nhân viên ở quán cũng vậy khi bác đứng quầy dịch những dòng chân thành ấy ra cho mọi người nghe.

Những dòng chữ ấy, thay đổi một chút, thì có thể tìm thấy trên tường một quán ăn nhỏ ở Porto. Quán ấy dễ thương cực kì, chỉ có cặp vợ chồng già cai quản. Bác nữ béo tròn, thấp người, tóc ngắn suốt ngày đứng bếp. Bác nam phong độ, đẹp lão, tóc bạc, nói tiếng Anh lưu loát, bập bõm cả tiếng Tàu. Quán của bác có món cơm mề gà cũng hay, mà rẻ, chỉ 5e, đầy đủ cơm, rượu, súp. Rượu mỗi đứa được cho nguyên 1 bình, uống sắp xỉn thì bác lao ra, mời thử thứ rượu Porto đựng trong chai bé xíu, vàng sóng sánh, vị ngòn ngọt. Rượu ngon còn bác thì quá hiền và tốt. Chúng tôi lại chụp ảnh cùng bác. Chúng tôi cũng chụp ảnh cùng anh Jõao chủ hostel Gaia, bởi anh thật tuyệt. Anh tổ chức party kỉ niệm 1 năm hostel mà cả lũ không về kịp nên anh để dành cho bao nhiêu là bánh gato. Anh nghe nói tụi tôi phải ra sân bay sớm thì cũng dậy sớm, chuẩn bị đồ ăn sáng. Anh gọi taxi, chỉ quán ăn, hướng dẫn tất tần tật.

1275287_531036196971180_1135535638_o

Ôi những quý ông Bồ Đào Nha, khiến người ta thật thương nhớ. Có người đứng vẫy tay trong nhà ra, có người ở ngoài đường chào hỏi vui vẻ khi thấy lũ chúng tôi khuơ valy cồm cộp trên đường. Trên những con đường ở đất nước của con gà Barcelos, có bao nhiêu quý ông từng lướt qua, lưu lại trong niềm vui sướng và  biết ơn.

Tin vào sự thay đổi

change-we-can-believe-in-800px

“Change, we can believe in”, khẩu hiệu này đã theo Obama qua cả 2 kì vận động. Và ông ấy chiến thắng.

Bởi hơn bao giờ hết, con người đang muốn tin vào những sự thay đổi, đơn giản như thay kiểu tóc mới có thể mang lại may mắn, cho tới việc tin 1 tổng thống da màu có thể vực dậy nền kinh tế nước Mĩ.

Đó là chuyện của nước Mĩ, còn bây giờ là chuyện của chúng ta

Cách đây vài ngày, tôi xem một bộ phim có tên là 21. 21 là một số đặc biệt, bởi nó là tổng của kim tự tháp số lập nên từ 1 đến 6. 21 có mặt trong đường xoáy ốc vàng Fibonacci. 21 là tuổi trưởng thành của một số nước, trong đó có Mĩ. 21 là một số thú vị, bởi nó được chọn làm số chiến thắng trong trò chơi Black Jack, hay vẫn gọi là xì dách ấy. Tôi chẳng biết vì sao người ta chọn 21 là con số cần đạt tới, tôi chỉ biết trò chơi lần đầu được biết tới là trong một cuốn sách của Cervantes, dĩ nhiên không phải Don Quixote. Trò xì dách thì chắc ai cũng biết rồi, nhưng bộ phim 21 thì có thể nhiều người chưa xem. Bộ phim làm về 1 nhóm sinh viên MIT giỏi toán, quyết định vét tiền của các sòng bạc Las Vegas bằng việc chơi xì dách. Quả là  ngoài đời cũng có một nhóm sinh viên từng làm như thế thật. Bộ phim rất hay, có nhiều cái để nhớ ngoài câu hét “winner winner chicken dinner” hay ” Chơi bài là tính toán chứ không phải là đánh bạc ” (It’s about counting, not gambling). Cái tôi nhớ nhất đó là câu chuyện Monty Hall.

Chuyện thế này: trong cuộc chơi truyền hình, bạn là người chơi, bạn có 3 chiếc cửa: 1 cửa mở ra có ô tô mới cáu cạnh, 2 cửa mở ra có con dê cười be be. Nhiệm vụ là bạn phải chọn đúng chiếc cửa có ô tô mui trần ấy để đi cua gái. Gỉa sử bạn chọn cửa 1, ông dẫn chương trình cười tươi, chơi trò mèo vờn chuột, liền mở cửa 3. Con dê xuất hiện, cười nhe răng. Ông ấy hỏi ” Bây giờ  còn 2 cửa, anh có thay đổi quyết định, có muốn chuyển sang cửa 2 không?”. Người thường sẽ nghĩ ngợi “thằng cha này có lừa mình không ta?vì rõ lão biết xe ở đâu và dê ở đâu”. Còn Ben, anh chàng trong phim thì tỉnh queo “Tôi đổi”. Tại sao?

Tại vì cậu ta tin vào biến (variable change) và trò chơi này cũng chỉ là phép toán thống kê. Đầu tiên khi Ben chọn cửa 1, khả năng con mui trần sau cửa 1 là 33.3 %, khả năng nó nằm ở 1 trong 2 cửa còn lại là 66.7%. Bây giờ cửa 3 đã là con dê rồi, thì khả năng 66.7% kia nằm gọn ở cửa 2, vậy là hơn 33.3% so với cửa 1. Thế là anh chàng bỏ ngoài hết những cảm tính, số trời để đi theo tiếng gọi của biến số. Bạn gật gù thấy đúng, mặc dù đầu vẫn nghĩ “3 cửa thì khả năng ô tô sau mỗi cửa vẫn chỉ là 33.3% thôi chứ nhỉ”. Ừ thì thế đấy, nhưng chàng Ben lạnh lùng vẫn chỉ tin vào sự biến đổi.

Đó vẫn là chuyện của nước Mĩ, bây giờ là chuyện của chúng ta.

“Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi”.

Ngày còn trẻ, mẹ tôi mặc quần lụa, tóc tết hai bên, vác ca táp đen tới trường đều đặn, khi đó nhà nhà người người đã mặc bò côn, đóng thùng, tóc xoăn như mấy chị trong Điệp vụ ba bông hồng. Bây giờ thì người ta mặc gì mẹ mặc nấy. Sáng đi dạy, chiều mà phải ở lại họp hội đồng thì thế nào cũng kéo theo nhậu nhẹt và chơi bài. Mẹ chơi toàn thua, giỏi lắm cũng chỉ thắng 20 ngàn, trong khi kỉ lục bị chặt tận 40 ngàn. Bố thời trẻ thì đi đầu phong trào mốt của huyện. Họ mặc caro, bố mặc trước. Họ mặc ống loe, bố có 2 cái luôn. Bố vào Sài Gòn chơi, chụp ảnh cũng đẹp cỡ Chánh Tín trong Ván bài lật ngửa. Tối tối bố trèo tường đi xem chiếu bóng, còn mẹ nằm nhà đọc Quỳnh Giao. Vậy mà bố lấy mẹ. Rồi giờ bố cả năm có mỗi 2 cái quần kaki đá đi đá lại. Áo len chắc có 3 cái và lô lốc sơ mi Việt Tiến học sinh tặng, ngoài ra không biết may mua đồ là gì. Bố bảo “Bố mày xấu mà, mua làm gì cho tốn”, tiền bố còn bận gửi tiết kiệm. Mẹ thì ” Chết đến nơi rồi, phải ăn chơi cho sướng đã”, tiền mẹ để nuôi cả 2. Cả bố và mẹ đều thay đổi, theo những hướng khác nhau, nhưng đi lại gần nhau hơn.

Tôi có con bạn thân. Bạn lấy chồng, đẻ con, như hầu hết các bạn đồng trang lứa khác thì nhìn tôi kiểu “Con này lông bông”, nói chuyện giờ không hợp nữa. Nghĩ cũng tiếc vì giờ sách bạn đọc là sách Kinh tế, còn chồng truyện Agatha hay Cuốn theo chiều gió cũng theo chiều gió nào rồi. Tôi hay thích ngồi chê bạn nhưng vẫn biết thay đổi là điều tất yếu. Chắc chỉ vài năm nữa tôi cũng y chang. Đời người có nhiều pha: trẻ con, tới thiếu niên, rồi trưởng thành, yêu đương bồng bột, có chồng, có con, rồi khắc nghiệt với những người mình yêu thương. Chạy từ pha này sang pha kia là cả một quá trình dần dà từ từ, chứ không phải đột nhiên xuất hiện một mụ vợ xấu xí trong khi hôm qua còn là cô người yêu dễ thương lí lắc. Chúng ta nhiều khi cố chống lại những sự thay đổi đó, bởi quá nhiều tiêu cực từ môi trường sinh ra. Nhưng rồi lại vẫn trông chờ vào những thay đổi đó, cho cuộc đời bớt nhàm.

Ngày cấp 1 tôi chuyển trường 3 lần. Sang đây 4 năm cũng đã ở tới 3 nước. Tôi quen với việc mỗi năm chuyển nhà một lần, lại sung sướng ngụp lặn trong những bể cá mới. Tháng sau sẽ bắt đầu năm thứ 3 ở Pháp, thấy có chút cuồng chân. May sao chuyển nhà ra đến ven ven Paris, sống khổ sở, luôn bị áp lực tiền điện nước đè đầu (không như ngày ở KTX). Mới mùa thu mà hàng ngày phải đấu tranh với sự buồn ngủ để ra tàu, lên bus, tới trường khi trời còn ẩm ương tối. Kì lạ là giờ lên trường còn sớm hơn những ngày ở cách trường 1 sân bóng tenis. Mỗi đêm ngủ trên căn gác mái, vừa thích vừa buồn, được thỏa ước mơ lâu nay, nhưng lại thấy sao mình nghèo nghèo tội tội. Tự nhiên lại có ý thích tiền và muốn kiếm tiền (dù lâu nay vẫn bảo: chả cần).

Theo thời gian, ai cũng phải thay đổi, từ những nếp nhăn trán cho những nếp nhăn não. Nghịch lý là khi não nhăn trán phẳng và khi não phẳng trán nhăn. Càng già, người ta càng lười suy nghĩ, dường như bao nhiêu nhiệt tình tuổi trẻ biến hết. Và càng sống người ta càng đánh mất niềm tin vào mọi sự thay đổi.

 Năm lớp 11, hôm đấy thầy giáo dạy Văn đi muộn. Thầy vào, ngồi xuống chậm rãi, không bắt đầu bài học mà bắt đầu thở dài ¨Người tốt duy nhất còn lại trong xã hội này chết rồi¨. Thầy bảo đã ngồi khóc khi nghe tin giáo sư Tôn Thất Bách mất. Thầy bật nhạc lên và cứ ngồi thế, cho sự tiếc nuối bao quanh. Hôm nọ, một ngày như mọi ngày, tôi đến trường, đang ngồi làm việc thì IGiang bảo ¨Tướng Giáp chết rồi¨. Tôi cảm thấy có buồn,nhưng không bàng hoàng, giống như bạn nghe tin về một người đã ẩn dật trong rừng xanh lâu rồi, một ngày kia lại xuất hiện và bạn thậm chí đã quên mất họ để mà nhớ. Sự thật thì nhiều người nghĩ tướng Giáp đã chết từ lâu, bởi cái tuổi 103 là con số khó tin lạ. Nhìn những dòng người đi vào thắp hương cho người và đâu đó tiếng đồng bào vang lên, tôi mới thấy rưng rưng. Hơn hết hình ảnh người trong bộ quân phục hiên ngang làm tôi nhớ đến ông nội mình, lúc đó tôi mới thấy xúc động hơn bao giờ hết. Vài người nói ¨vị anh hùng cuối cùng đã ra đi rồi¨, có người lại nói ¨con người chân chính duy nhất đã không còn¨.

Với đa số, xã hội ngày nay đã không còn người tốt và người chân chính. Nhà mọc cao lên, đạo đức thấp xuống. Ai cũng ca thán những bất cập của xã hội hiện tại. Những đổi thay tiêu cực không đáng có, và rồi đất nước sẽ ra sao? Mọi người sợ hãi sự thay đổi của xã hội từng ngày, nó đang xấu xí méo mó theo thời gian, như con quái vật bãi rác ngập ngụa trong Spirited away. Nhưng sự xấu xí nào cũng sẽ có điểm dừng. Tôi vẫn tin vào những sự đổi khác, những sự thay đổi mang lại bộ mặt mới tươi đẹp. Liệu có xa không? Liệu sự tin tưởng này có phù phiếm?

Ngoài kia ngàn dòng lệ đang chảy xuống cho một người dưng. Quán cafe sang chảnh bỗng dưng bê dù ra che nắng cho người xếp hàng viếng. Tự nhiên đội tình nguyện ở đâu chạy ra phát nước, phát bánh mì. Người ta bỏ việc thường ngày, đợi 6h chỉ để thắp hương trước 1 tấm ảnh. Bà cô bỏ chợ, anh trai bỏ cuốc xe ôm, em gái nghỉ buổi học, ca sĩ không diễn, thầy giáo dẫn theo đoàn trẻ nhỏ chưa kịp học lịch sử để biết người nằm xuống là ai. Tôi ngồi nghe ¨Hát cho người nằm xuống¨nhớ tới vị tướng già  “Một chân ông đã đặt vào lịch sử. Một chân còn vương vấn với mùa thu”.

Ở Hà Nội, hình như mới khai quật được kho báu, hình như có chút tình người được tìm thấy sau những đớn đau.

Đêm Paris

IMG_20131006_005047

Paris từ góc nhìn của Centre Pompidou

Đúng là cái mình có thường không quý.

Lúc còn ở quận 13, chệm trễ zone 1 của Paris, cần ra Eiffel thì bắt tàu 6, mà ra Notre Dame thì giong tàu 7, vài bước là tới quán phở, phải nói là gi gỉ gì gi cái gì cũng tiện, thì tôi còn bận nghển cổ sang ghen tức với bạn bè ở quận 5 văn minh. Quận 13 tiện nhưng vào trung tâm phải đi… tàu. Quận 5, đi vài bước ra Notre dame, rảnh thì chạy dọc sông Seine khi từng mảnh trời xanh vỡ vụn về chiều, hứng lên đi ăn kem Amorino ở Saint Micheal cũng gần. Nói chung chỉ hưởng cái không khí quartier Latin là đủ sướng rồi. Khu này xưa vốn toàn những trường học lớn của Paris tập trung nên được gọi là quận Latin, ngôn ngữ được giảng dạy thông dụng thời đó. Thằng em trai ngày chân ướt chân ráo lên Paris, đến trường về đã kêu ầm lên ¨Trường Beaux-arts Malaquais của em vãi xịn, ngay dọc sông, đối diện Louvre, trưa chạy ra cầu khóa ăn là thì vãiiiii¨ (nó bị bệnh bí từ, chỉ biết nói vãi). Mà đúng là nó đã làm thế thật. Vãi.

Tôi đã ghen tị không biết đâu cho hết.

Vậy nhưng từ ngày chuyển ra rìa thành phố – Choisy le Roi thì tôi mới thấy thèm khát biết bao cái không gian sống động của phố thị. Đường phố lúc nào cũng tràn người và ngập ánh sáng. Nó không ảo diệu, gợi sự hào nhoáng như trong khu trung tâm nhưng vẫn căng đầy sự văn minh. Tôi nhớ cái phòng 809 ở đường Tolbiac quá!!! Tôi nhớ cái khu phố nhỏ và xưa – Butte aux Caille mà tôi vẫn gọi là đồi chim cu. Ở trên cái đồi ấy, hàng ăn, quán bar ngập tràn những con hẻm lát đá. Món vịt ở Chez Gladines cũng đáng để xếp hàng, hay bia Guiness ở một quán bia Irish cũng đạt gần như những gì Dublin có. Tối thứ 6, lũ sinh viên nghèo hiếu cồn lại lao nhanh ra giữ chỗ ở La folie en tête. Bar này nhỏ xíu nhưng trang trí ngộ nghĩnh những nhạc cụ dân tộc, bàn ghế gỗ, trong một không gian nhỏ xiu, kín bưng, lúc nào cũng nhập nhoạng ánh sáng đã thành quán ruột của cả lũ. Đến vào Happy hour (6-8h) thì chỉ 3.5e cho nửa lít bia vàng hoặc trắng, 5e cocktail rồi muối mặt hết lần này tới lần khác bưng đĩa ra xin anh đứng quầy lạc rang. Đôi lần sau khi vài ly cocktail ở La folie en tête, loạng choạng trong những con hẻm nhỏ, tôi tìm thấy một con đường, sáng ánh đèn, rực ánh trăng. Đường trăng kéo dài tới một công viên nhỏ phủ bởi hàng anh đào hồng rực. Cảnh ấy đẹp như mơ ấy. (mà thực ra khi say sưa thì thấy gì cũng đẹp cũng mơ). Sống ở Paris cũng như một giấc mơ đẹp, dù Paris khai nồng và đen đúa.

1015263_10151438588737007_1166653048_o

La Folie en Tête

Người ta yêu Paris cũng vì Paris là hiện thân cho sự hưởng thụ. Hộii hè và Paris, âm nhạc và chất cồn, sự thực là thế. Bước chân qua Place de Monge, rẽ vào đường Rue de Ecole, nơi Hemingway từng sống. Là sống thật, chứ không phải tồn tại. Dù ông ấy đã nghèo khổ, đã đói khát, đã tiết kiệm từng xu, nhưng vẫn có sáng thong dong uống một cốc cafe ở Contrascarpe, lấy phấn chấn cho một chương cuộc đời.  Rồi những cuốn sách như La fiesta ra đời. Khi đọc Hội hè miên man tôi thấy nó nhạt toẹt và rỗng tuếch, chỉ ăn và chơi,  thứ duy nhất nhớ là thằng bạn khó chịu giống đất bẩn trong kẽ chân. Nhưng linh hồn của Paris là thế. Bạn tôi bảo ¨Nếu em có viết sách nhớ lăng xê La Circus như Hemingway nói về Contrascarpe¨. La Circus của chúng tôi chẳng có gì, chỉ là nơi cả lũ cafe túm tụm, crossaint giòn vương vãi, uống sữa nóng trong cái bình inox 3 ngón tay và nghĩ ngợi những thứ giản đơn, chứ không màu mè như ông già ấy.

Khi La Circus bắt đầu đông, người ta kéo bàn ra đường, là khi mùa hè tới. 

1274630_10151578451352007_1096475716_oMùa hè, người ta đổ dồn ra sông Siene. Kẻ kéo đàn, người uống rượu. Chúng tôi cũng xuống bờ ke, uống bia đón gió, vẫy gọi những thuyền khách du lịch. Đây là mảnh đất của tôi, của tôi đấy. Dù trời có mưa, có chút sóng sánh trong lòng, người ta vẫn đi tràn ngập Paris. Paris mà, lúc nào chẳng sụt sùi như thế. Những đêm, trở về từ La vache piano, chân có chút men say, cảm thấy đời thật ảo. Có ông già mua cho kẹo cao su, thứ kẹo tròn thơm lừng, như khi cô chú đi Đức về cho. Bao ước mơ thưở nhỏ lại ùa về dữ dội. Trong đống ước mơ con con ấy, chỉ có búp bê, đồ chơi, chưa thấy cái ước mơ nào chứa nổi cả một cái tháp. Rồi cũng như ai, ra nước ngoài, tạo dựng cả mảnh đất nhớ nhung, hoài niệm, tiếc nuối, giận dữ, thèm muốn, đôi khi cả đam mê. Đam mê như nghe Tùng Dương hát. Từ ngày sang Paris lại được tới gần hơn nhạc Việt, được nghe Tùng Dương, Thanh Lam, Hà Trần và âm nhạc ngọt ngào có tính tồn tại, không chỉ thời đại.

Ngày tháng 7, hội hè, fête de la musique, khiến cho đi đâu cũng thấy nghệ sĩ. Họ chơi đàn, họ hát, tiếng anh tiếng pháp. Bọn tôi cũng lao vào nhảy, hát hò cùng họ. Chúng tôi đi về phía Pantheon, làm thêm một chầu ở quán bar bên cạnh. 3h sáng đạp xe về nhà trong manh áo mỏng, thấy gió lùa cả lồng ngực, nước mũi ròng ròng, tinh thần phấp phới. Sáng ngủ dậy không bị méo mồm, căng cơ, thế là hạnh phúc rồi. Pantheon cũng là nơi nhậu nhẹt ngắm pháo hoa khi cả nước Pháp tưng bừng Quốc Khánh. Nhưng ngày vui chơi tới mịt mùng sáng ấy thật sung sướng, khi cả hội đi về cùng nhau, cùng đạp xe, hoặc cùng đi bộ, cùng lăn bò càng, hoặc cùng nằm trên đường ăn vạ metro. Bây giờ thì đi ra ngoài ở, mỗi lúc đi đâu cũng chăm chăm về trước 11h. Vậy mà đêm qua 4h sáng mới mò về tới nhà.

Đêm qua, Đêm trắng, thứ mà bọn tây gọi là La nuit blanche, thực ra vẫn đêm đen tối mù. Họ mở cửa cho bạn vài cái bảo tàng và có hàng chục các show diễn ra trong đêm: kịch, nhạc, pháo hoa, hay mấy cái triển lãm. Bọn tôi hẹn hò nhau ở Pavillon Arsenal rồi ra Centre Pompidou, kết thúc cuộc đi chơi ở 1 quán KFC lúc 2h sáng. Centre Pompidou mang tên 1 vị tổng thống có kết cấu kì quặc với đống ống dây bên ngoài tòa nhà, trông ấn tượng và đẹp. Cũng y như bộ sưu tập đương đại ở tầng 4 của tòa nhà. Các bức tranh khó hiểu nhưng đẹp. Bạn bè hỏi ” sao thấy đẹp”, chỉ “cảm nhận thấy đẹp, chứ chưa bao giờ định hiểu”. Cái không biết luôn làm người ta thấy hay và đẹp. Giống những hình vẽ graphity tuyệt đẹp trên tường của Seth tôi cũng không dám hiểu hết. Những cậu bé chạy trốn vào tường, những cô bé bay lơ lửng trên ô, tất cả đều áo sọc giấu mặt ( những người tù bé nhỏ???) . Rất đẹp, dù chẳng hiểu vì sao.

DSC_1227

Trình diễn ở Pompidou

Paris cũng rất đẹp, rất yêu dù không hiểu vì sao? dù phải bắt bus lúc 3h sáng, đi cả tiếng trời mới về cái nhà ở xó ma quỷ. Trên xe toàn những anh đen nhìn có chút bất lương đáng sợ, với cái điều tiếng về nạn hiếp dâm vẫn lơ lửng. Đi tàu xe về Choisy le roi là cả 1 kì tích của trái tim quả cảm. Dám yêu, dám sống, và dám nhận thấy những mặt xấu của thành phố, nhưng chưa bao giờ tôi ca thán, trừ thời tiết Paris.

1294363_10151578438052007_422654694_o

 Seth