Lớn lên cháu làm gì?

confused-baby2

¨Lớn lên cháu làm gì?¨

Ai hồi bé chắc cũng phải nghe câu này. Sau đó các bác sẽ liệt kê ra nào là bác sĩ, giáo viên, họa sĩ…, chẳng ai nói về kĩ sư với em bé gái, hay người mẫu cho em bé trai. Họ đổ lên đầu trẻ con 1 đống mơ ước và các nghề nghiệp cao sang, không thấy ai nói ¨Lớn lên phải làm người tốt nhé¨. Bố mẹ mình thì thường ít hỏi, nhưng nháy mắt nhau: Lớn lên cho nó đi làm luật sư vì con này nhà mình cãi người nhem nhẻm. Nhưng sau đó thì bố mẹ quên bặt, chỉ dấm dúi ý định cho nó làm giáo viên, nhàn nhã, lại dễ lấy chồng.

Ngày tôi quyết định đi thi Bách Khoa thì bố xin xỏ ¨Thôi đi thi Ngoại Thương đi mà, bố mua xe máy với điện thoại đẹp, cho ăn diện sành điệu¨. Ông nội thì vẫn nguyên quan điểm: Cháu nhà này phải làm giảng viên, cho đúng truyền thống bao đời dưới án bụi phấn trung thần bởi khi xưa từ đâu có cái cái nghiên mực chệm trễ trên mộ tổ. Mẹ thì ậm ừ chả nói gì, mẹ bảo: Thích làm gì thì làm. Còn 1 tiếng là tới giờ đi họp hội đồng thi, tôi ngồi khóc rưng rức vì không biết mình thích gì. Sau một hồi gọi điện xin quyền trợ giúp từ bạn bè thân, bố tặc lưỡi ¨Thôi bố cho mày đi thi BK, ai bảo làm hồ sơ thi NT chọn khoa Luật Quốc Tế, khoa đó rởm hơn khoa kia. Mình giỏi thế này mà dưới trướng đứa khác sao được¨. Vì cái nguyên tắc Con-mình-phải-cưỡi-đầu-thiên-hạ của bố, cùng cái gật gù ba phải của ông thì cuối cùng tôi cũng bước chân vào cổng trường Parabol. Sai lầm này tới sai lầm khác.

Đôi lần tôi tự ngồi hỏi mình, ngày bé ước mơ gì?

Ngày bé, bạn bè cùng phố ngồi hỏi nhau. ¨Chị Nga thích làm gì?¨ ¨Chị thích làm tiếp viên hàng không, bay đi khắp nơi¨. Mình đồ là hồi đó cái ý chí bay tung trời, đạp biển của mình chưa có rõ, nhưng vì vừa đọc nhóc Maruko, cô nhóc đó mong thành phiên dịch viên nhiều thứ tiếng, đi khắp nơi, nên cùng bắt chước tìm nghề tương tự. Hoặc có thể bản năng ăn chơi từ nhỏ đã có, tiếng nói trong con người đã buột miệng lên như thế, nhanh gọn, chẳng suy nghĩ gì. Lớn lên thì hết, khi mà chiều cao chỉ tới 1m56 thì dừng hẳn, chiều ngang nở ra đều đều. Có đôi lần, năm lớp 4 thủ thỉ với mẹ ¨Con sẽ làm cô giáo như cô Hoa¨, lớp 5 lại thủ thỉ ¨Con muốn dạy toán như thầy Châu¨. Sau này lớp 9 vẫn đam mê, dạy như thầy Long, dạy bất đẳng thức ấy, vì thầy Long bảo ¨Nó có nhạy cảm toán học¨. Thời đó thôi, chứ lên cấp 3 thì học chậm dần lùi, nhìn thấy toán là ngán ngẩm. Lớp 12, cùng ước hẹn với con bạn đội tuyển toán cũ ¨Cùng làm giáo viên dạy toán nhé¨. Trước ngày thi đại học đầu tiên, con bạn gọi điện ¨Xin lỗi mày, tao thi Dược¨. Mình quay sang ¨Xin lỗi mày, tao thi BK¨. Thế là chấm dứt mối lương duyên.

Hôm nay có bạn hỏi ¨Thích làm gì ở đời?¨

Tôi ngậm ừ, chẳng thích làm. Tôi thật sự chẳng thích làm gì cả cho cuộc đời mình, trong lòng nghĩ ¨Thích trở thành người khác được không?¨. Dạo này tôi sống trong 1 cuộc đấu tranh bền bỉ của việc chấp nhận những gì thiên nhiên cho. Trí não eo hẹp khiến người ta khó thu nhận những điều xung quanh để làm mình tốt hơn. Một người được coi là nội tâm là khi họ lấy sức mạnh từ bên trong cơ thể, như người tập yoga, còn kiểu người còn lại thì lấy từ môi trường xunh quanh, giống như ca sĩ sống nhờ tiếng vỗ tay. Tôi đang nghĩ xem mình sống nhờ gì? Ngày xưa sống nhờ những hi vọng, mơ ước rằng mình sẽ khác. Sẽ có ngày mình đẹp, giỏi, có ngày mình nổi tiếng, có ngày mình làm được điều lớn lao. Giờ thì biết chẳng thể nào có những điều đó, nên đang cố sống đơn giản, không xin xỏ từ vận may nữa. Muốn có tiền đi Châu Mỹ thì phải cố kiếm, chứ chẳng chơi loto mà được. Dạo này tôi viết báo dạo, 200 nghìn cho một bài review phim, 300-400 nghìn cho một bài văn hóa. Làm hết tháng, nhuận vỏn vẹn 2 bài – 400 nghìn, để con đường tới châu Mỹ vốn đã xa nay còn mệt mỏi.

Một đêm, lũ 3 đứa ngồi châu đầu buôn chuyện. Nghĩ xem cái Xóm toàn tiến sĩ này sau về có thể làm nên điều gì lớn lao. Liệu có kết hợp các nguồn trí thức lại với nhau??? Điều xa nhất có thể nghĩ ra là 1 trung tâm luyện thi đại học: Nga dạy toán, Tiến dạy Lý, Giang dạy Hóa, Phong bán nước chè trông xe, anh Cường mở trung tâm tin học văn phòng dưới sự  giúp sức của anh Trung để in bằng Tin học cơ sở bán, anh Hân mở quán cơm bình dân bên cạnh, thằng Hưng mở phòng thể hình để nâng cao thể chất cho các cháu, em Ngân đi thu tiền học, anh Văn quản lý nhà trọ, thằng Trung dạy vẽ, anh Tèo dạy nhảy nhót giải tỏa stress, còn em Yến mở trung tâm du học bên cạnh để các cháu không đỗ đại học thì lên đường đi Tây luôn. Mỗi cháu phải nộp trọn gói mấy chục triệu để nuôi ăn, luyện học trong vòng 1 tháng, đảm bảo đỗ không Ta thì Tây. Trung tâm luyện thi đại học Mộng Du xin kính chào quý khách.

Đó có thể là một dự án tốt.

Đêm hôm kia, cả nhóm ngồi nhậu với nhau. Để sáng qua tỉnh dậy ai cũng buồn. Vùi mặt vào bia rượu chỉ vui phút chốc mà khi tỉnh dậy cổ khô khốc thấy buồn làm sao. Anh Tèo ngồi trên ghế nhìn buồn như thể con người yêu nó không thèm nhìn mặt. Anh Cường cặm cùi chơi cờ vây,  vẫn luôn một mình giữa đám đông. Anh Phong đi trồng cây, tôi với Giang nấu bún. Anh Phong bảo ¨Sau này về Việt Nam, đi mua mảnh đồi trồng cây cho rồi¨. ¨Em đi chăn lợn¨ chỉ sang tôi. Ờ, em đi trồng cây làm vườn ao chuồng với. Giang chăn gà vịt. Anh Cường nuôi bò trên Sóc Sơn, nuôi bò sữa được thì tốt. Hay làm con rô bốt chăn bò? Anh Tèo về làm cái phá nuôi tôm như bố. Kể cũng hay, bố mẹ vất vả, nuôi gà trồng rau, đi chài lười, chỉ mong con thoát khổ. Con học, con thi, con ra khỏi cái chum trước nhà, con làm tiến sĩ rồi chỉ mơ về có mảnh vườn trồng rau, nuôi gà, hay cái ao nhỏ thả cá, nuôi tôm. Ai cũng mơ một góc nho nhỏ để chôn vùi mình vào đó, thay vì cánh đồng tri thức bao la mà người ta càng đi càng lạc. Vườn của mình, đất của mình, cây của mình, tất cả là của mình. Mình chăm nó, hiểu nó, yêu nó, nắm giữ nó, chứ không phải chạy đuổi cảm xúc như cố nắm bắt một con người, hay cố chạy đua để hiểu không gian kiến thức bao la. Chẳng ai nói: Kiến thức này của tôi. Nó là của chung mọi người. Cái gì mà mình không kiểm soát nổi thì hoang mang vô cùng. Ai cũng hoảng sợ khi mất tự chủ.

¨Người ta chết sớm hơn mình tưởng¨

¨Có nhiều người chết ở tuổi 25, nhưng chôn ở tuổi 75¨

Thế hệ tôi đang loay hoay biết bao? Đừng cố chết sớm hơn số trời. Nhưng phải làm sao để thoát?

Thật hay là chẳng bao giờ bọn tôi hỏi nhau những câu được xếp vào hạng sến như ¨Mày muốn làm gì ở đời?¨. Tôi chẳng cao cả được như ¨Kiếm nhiều tiền để cho người thân¨ hay ¨Làm điều gì đó để mọi người nhớ đến¨. Khỉ thật,¨Tao chỉ muốn sống vui¨

Advertisements

Cô gái Warsaw

Tôi đến Warsaw vào một ngày tháng 6 nóng nực mồ hôi. Tôi tới đây một mình, về cũng một mình nhưng không hoàn toàn cô đơn. Tôi có hẹn với vài người bạn cũ, vài người bạn mới ở đấy. Thích nhất là tôi được ở trong nhà của một người Việt lâu năm ở Warsaw. Tôi quen cô Minh qua một người bạn một cách lòng vòng, nhưng khi gặp nhau lần đầu đã tíu tít như là bạn bè xưa cũ. Cô ngày trước cũng học kĩ thuật nên cô cháu nói chuyện hợp gu. Cô bảo: Con gái cô nói tiếng Việt không sõi nên thích thú khi có đứa con gái liến thoáng như tôi. Tôi thì thích cách nói chuyện nhỏ nhẹ, duyên dáng, vẫn rất Hà Nội của cô, dù đã theo chồng sang đây khoảng hơn 20 chục năm, bươn trải các công việc buôn bán.

Trưa đầu tiên tôi tới, cô nấu Bò bún, cô nấu ngon như mẹ nấu ở nhà, nhưng bắt ăn nhiều gấp đôi, lại còn phải ăn bằng hết. Ăn xong, cô đưa cho tập bản đồ, sách hướng dẫn du lịch Warsaw, mà khi nghe tôi sang, cô và con gái đã đi thu lượm. Khoảng 1 tháng trước ngày tôi bay, cô còn gửi bản đồ sân bay, chỉ dẫn cách bắt tàu điện vào thành phố, cách mua vé, cách về nhà cô, các biển chỉ dẫn địa phương vì sợ tôi không hiểu tiếng Ba Lan. Khi đọc thư cô, tôi luôn xốn xang, lơ ngơ như cảm giác lần đầu tiên xuất ngoại. Khi thấy tôi đến gõ cửa nhà, cô đã rất bất ngờ vì mọi việc lại suôn sẻ thế. Sau màn gặp mặt thân thiết, cô giao cho tôi một cái phòng  ngủ tinh tươm. Phòng này vốn của con trai cô, nhưng thằng bé qua Mĩ học nên tôi được thoải mái vài ngày. Cảm giác về Warsaw của tôi giống như về Hà Nội. Có đồ ăn Việt, có ai đó như mẹ, có một căn phòng to, với cái giường thật rộng để nằm chứ không bé xíu như ở kí túc xá.

Cô Minh hiếu khách và ham chuyện. Cả chiều cô ngồi kể về cuộc sống của người Việt ở Warsaw. Người Việt ở Warsaw đông nhất trong lượng dân nhập cư ở đây, còn đông hơn cả Trung Quốc, điều này làm tôi hoàn toàn bất ngờ. Cô kể về việc bán hàng ở chợ người Việt và sự khó khăn trong xin việc ở Warsaw những năm gần đây. Khó tới nỗi, câu con trai cô được học bổng đi Mỹ học mà cứ sợ khi về đây không thể nào xin được việc. Còn con gái cô ngoài tiếng Việt, tiếng Ba Lan, tiếng Đức, tiếng Anh, còn được cho vào trường tiếng Pháp, với hi vọng có thể sang Pháp học và xin việc ở đó. Suy thoái kinh tế đúng là đang len vào mọi ngóc ngách của châu Âu, đặc biệt ở những nước kinh tế yếu kém như Ba Lan.

Trước khi tới Ba Lan, tôi cứ tưởng thủ đô của nó cũng phải lung linh, rực rỡ, có phần quý tộc như những thủ đô Đông Âu khác là Budapest và Praha. Sự thật không hề như vậy. Warsaw có dáng vẻ nghèo khó, nhà cửa thấp bé, cũ kì, chứ không cổ kính. Tôi thấy thương cho một thành phố thủ đô, nhưng lại giống Hà Nội thời bao cấp. Đặc biệt là sau khi rời tàu điện từ sân bay, tôi đến ngay nhà cô Minh ở rìa thành phố, nơi khung cảnh xung quanh có vẻ rất đơn sơ, giản dị, tầm thường so với những gì Paris vẫn mang đến cho tôi hàng ngày. Mặc dù khu nhà cô Minh đã thuộc dạng tốt, chung cư mà đi đâu cũng có người canh gác và mật khẩu, nhưng kiến trúc của nó thật cũ, thô kệch xấu xí. Nhà cô Minh gần sân vận động khai mạc EuroCup nên đó làm điểm sáng duy nhất cho sự lựa chọn không sống trong phố của tôi.

chopin DSC_1514 DSC_1486

Phố của Warsaw đẹp hơn nhiều lắm.. Khi theo xe điện đi qua cây cầu trên sông Vistula, đi tới quảng trường Charles de Gaulles thì không khí phố xá đã theo về. Người ở khắp nơi đổ về đây để đón xem Eurocup nên mới đông vui như hội vậy. Ngày thường Warsaw chắc sẽ thưa thớt hơn. Tôi dừng tàu, ghé vào một quán kem. Kem ở đây thật thú vị, ốc quế mà cao tới 20cm, ăn mềm oặt. Không hẳn là ngon, mà thú vị, tôi cầm kem, theo dòng người đỏ trắng, tôi tiến vào khu trung tâm. Nhà cửa trong khu phố cổ đầy màu sắc, xanh đỏ, vàng rực rỡ, rất xinh xắn, đáng yêu. Những mái ngói đỏ nhìn từ trên cao thật thân thương quá đỗi. Những hàng quà lưu niệm nho nhỏ. Hai bên đường quán bar rộn ràng, tháng 6 trời nóng, mọi người đổ xô ra uống bia. Nhiều người khác ngồi hóng nắng ở quảng trường trung tâm, trong tiếng nhạc của những nghệ sĩ đường phố.

DSC_1507

Giữa quảng trường, đài phun nước kiêu hãnh tượng nàng tiên cá – Syrenka tay cầm khiên tay cầm kiếm rất ấn tượng. Người ta kể, nàng là chị em với nàng tiên cá ở Copenhagen, nàng theo dòng Vistula từ biển Baltic khi bơi vào đây thì bị mắc lưới. Nàng vùng vẫy thoát ra nhưng không được. Những người dân chài khi thấy nàng đã đem lòng yêu quý nhất là giọng hát trong trẻo của nàng nên thả nàng tự do. Để cảm tạ, nàng ở lại, thành vị thần bảo hộ thành phố này. Thế nên nhìn nàng thật lạ, giống một nữ chiến binh oai hùng, hơn là một người đẹp u sầu như người chị của mình trên Bắc Âu. Có câu chuyện khác lại kể, ngày xưa có chàng hoàng tử Kazimierz khi đi săn đã bị lạc ở vùng đất bây giờ là Warsaw. Nàng Syrenka đã bắn mũi tên lửa chỉ đường cho chàng hoàng tử thoát khỏi khu rừng. Sau đó, biết ơn nàng, người dân ở đây đã dựng tượng. Dù câu chuyện là thế nào, Syrenka vẫn là biểu tượng của thành phố này, xinh đẹp và kiên cường.

Syrenka là biểu tượng còn Chopin là linh hồn của Warsaw. Dọc con đường Nowy Swiat, những chiếc ghế lớn từ đá granite đen, có gắn các phím bấm và loa. Người ta có thể ngồi xuống đó, tận hưởng những nhạc khúc bất hủ của Chopin. Âm nhạc của Chopin và tiếng xe điện chạy trong lòng phố. Công viên của Chopin và tòa lâu đài bên ngoài thành. Nhà thờ Holy Cross với kiến trúc Gothic 2 tháp nhọn xanh ngắt, ấp ủ trái tim  người nhạc sĩ, giữ chân khách du lịch lâu hơn trước khi vào tới khu phố cổ. Ở đâu, người ta cũng nhìn thấy bóng dáng Chopin. Họ biết trái tim Chopin và trái tim Warsaw vẫn đập cùng nhịp. Con người ấy vẫn sống, vẫn sống.

DSC_1464

ghe nhac Chopin DSC_1648

Có nhiều người trong hiện tại chỉ tồn tại, không sống. Có nhiều người thì dù chết trong thời đại nhưng vẫn sống với thời gian. Truyền thống cũng vậy, luôn được bảo tồn và sống đời riêng. Ở Warsaw, họ vẫn thích nghe Chopin, thích ăn sáng với bánh mì, thịt nguội, phô mai, 1 loại xúc xích khô giống lạp xưởng, và cả pierogi nữa. Pierogi là món truyền thống của Ba Lan, có bề ngoài giống bánh gối Việt Nam nhưng nhỏ hơn chút, được tự hào là một trong những loại há cảo nổi tiếng nhất thế giới, bên cạnh há cảo Trung Quốc,  món Tortellini của Ý hay Momo của Nepal. Pierogi có vỏ làm tự bột mì, nhân đa dạng, có thể là rau chân vịt, thịt lợn, phô mai, hoặc nhân ngọt. Bánh thường được luộc lên, sau đó áp chảo cho hơi vàng xém, rồi phủ sốt lên. Loại cổ truyền nhất là bánh nhân thịt, có rưới tóp mỡ lên trên. Đôi khi, họ có thể phủ sốt kem chua hoặc bơ và hành rán. Pierogi ăn ngon, nhiều thì hơi ngán, nhưng đỡ ngấy hơn món chân giò chiên, hay món thịt hầm cùng cải bắp chua. Món ăn này vốn của người nghèo nhưng giờ được đưa vào nhà hàng như đặc sản. Bọn tôi ăn và uống bia Zywiec trong nhà hàng Zapiecek, nổi tiếng vì ngon rẻ và các chị phục vụ thật xinh trong trang phục cổ truyền trắng đỏ.

DSC_1538Pierogi

em be Ba Lan nhan vien quan an DSC_1809

Các cô gái Ba Lan đều xinh đẹp, hiền hòa, vóc dáng nhỏ nhắn, tóc vàng, mắt nâu. Họ mềm mại, họ đáng yêu, không biết bên trong có rắn rỏi như nàng Syrenka. Warsawa vẫn chưa biết gì, thế nhưng khi bị giới phóng viên bắt gặp ở ngoài sân vận động nơi khai mạc Eurocup, được đài truyền hình Warsaw phỏng vấn “Bạn nghĩ gì về Ba Lan” thì tôi cười thật tươi “ Tôi thấy nó đẹp và ấn tượng”. Cô Minh ở nhà đã rất bất ngờ thấy tôi trên tivi và tôi tin là cô ấy còn bất ngờ hơn nhiều trước lời nói dối ngọt xoét.

Warsaw không xinh đẹp ấn tượng, không rực rỡ, kiêu sa, cô gái ấy bình dị trong chiếc tạp dề trắng, thật đáng yêu, đáng nhớ.

Tuyết Stockholm

Khi nghĩ về Noel, tôi hay tự hỏi ¨Sao Noel nào cũng đi?¨. Noel là lúc người ta nghỉ ngơi, chơi với gia đình, thì mấy đứa học sinh cù bơ cù bất cứ thấy ngày nghỉ là phốc lên đường. Mà kì lạ là cứ tìm chỗ nào lạnh lạnh, tuyết tuyết để đi cho lấy không khí. Tôi đã tưởng mình sợ tuyết lắm rồi, nhất là sau vụ đi Thụy Điển hưởng cái âm 15 độ, về nhà nằm nguyên tháng. Thế mà năm nay lại tìm đến tuyết tiếp. Không hiểu lần này về có nằm bẹp ra không, để mà nhớ dài lâu, như nhớ cái lạnh thấu xương và buồn thấu tim như ở Stockholm hồi ấy. Cái đó liệu có được xếp vào hội chứng Stockholm không nhỉ? Hội chứng Stockholm là hội chứng diễn ra đối với những người bị bắt cóc, bị  đánh đập nhưng lại nảy sinh sự thương cảm dành cho những người đã giam cầm hay hành hạ mình. Họ có những tình thương yêu, gắn kết với những thứ mà họ đã từng khiếp sợ. Có khi nào tình cảm cho tôi dành cho Stockholm cũng vậy, thấy thích thú với những trải nghiệm lãnh lẽo, đáng sợ.

Vụ đi Stockholm cũng chỉ bắt nguồn từ mong muốn: tôi cần đi tàu phá băng. Em trai tôi cũng vậy, mà Thu cũng hưởng ứng. Dù biết là sẽ lạnh không chịu nổi, nhưng cái háo hức thấy băng vỡ òa dưới mũi tàu là không sao kìm lòng được.  Tôi và Thu lập kế hoạch cho 1 cuộc đi chơi tới bến. Ở Stockholm, đi tàu phá băng lên Helsinki, rồi ngược lại đi lền Denmark. Bạn bè ở đâu cũng sẵn nên không phải lo nghĩ gì nhiều. Thế mà tôi đau tim ra phết, khi vừa bước chân xuống xe bus từ sân bay vào, thì một anh chàng nhỏ con từ đâu ào tới xách con valy của tôi chạy thẳng, sau lưng là 1 cô gái ngắn ngủn, áo bông, áo len to sụ, tai còn đeo bông ủ ấm, quay sang tôi ¨Ấy chạy nhanh lên, sắp có chuyến metro cuối¨. Thế là 3 chân 4 cẳng, hai chị em tôi chạy theo hai con người đang lao vèo vèo phía trước. Sau khi chạy lên xuống cả đoạn cầu thang dài ngoằng, thằng em với đôi giày mới đau chân, đứng thở hổn hên ¨Sao khổ vậy?¨. Tôi lúc đó mới lơ ngơ quay sang Thu. ¨Đây là Lĩnh, bọn mình sắp bắt chuyến cuối về nhà bạn ấy¨ Thu chỉ sang cậu bạn nhỏ con mà tôi còn tưởng là trộm 5 phút trước. Tàu dừng xịch trước mắt, cả lũ nhếch nhác đi lên, mồ hôi rịn cả áo len, trong khi trời đang rét tới -10 độ. Màn chào hỏi bắt đầu. Tàu vèo vèo qua những con đường cắt ngang dọc, tàu chạy trên cao, ánh sáng đèn từ những ngôi nhà cao tầng, Stockholm rực rỡ hiện đại như Hàn Quốc hay trong các bộ phim Mỹ. Bắc Âu thật khác với phần châu Âu già  cỗi dưới kia.

Đêm đầu tiên ở nhà Lĩnh, bạn nấu cho món bánh đa cua, nhiều bún, nhiều thịt, ít nước. Thằng em tôi ăn ngon lành, sau này cứ nhắc lại ¨Chị nấu giống anh Lĩnh đi¨ mà tôi chịu. Lĩnh cũng Eramus Mundus, học IT, gầy mà khỏe, bê valy của tôi chạy ầm ầm, dù trước đó mới vác tới 30kg valy của Thu. Lĩnh tiếp bia bọn tôi đúng 1 đêm, ngày sau thì bay đi trú rét mất. Thế là 3 đứa còn lại phá tung nhà bạn và tận hưởng tuyết. Tuyết đúng là thứ đặc sản của Bắc Âu. 1 năm 12 tháng thì 10 tháng lạnh, 6 tháng có tuyết. Người ta ngán tuyết, chỉ có xúc đổ đi thì mấy đứa từ vùng nhiệt đới tới lại ham mê vô cùng. Khăn mũ đầy đủ là lao ra đường chạy đua với mặt trời. Khi mà sáng 11h mới rõ đường, 4h chiều đã tối mịt thì con trẻ không có nhiều thời gian tận hưởng khí lạnh. Cũng thật may, vì nếu trời sáng lâu thì chắc tôi với Thu nhiễm lạnh sưng phổi lâu rồi.

Cả sáng của ngày sau vụ rượt tàu, chúng tôi tìm đến Haga park. Công viên nằm khá xa thành phố có phần heo hút và lạnh lẽo ghê người. Tuyết ở đây phủ kín cây cỏ, có những chỗ đi ngập tới đầu gối. Tuyết trải dài cả một cánh đồng nhưng không dám chạy lên vì sợ dưới kia biết đâu là hồ nước. Tuyết bao la trắng xóa, mênh mông, bất tận, sáng tinh tươm. Ở Ý hay Bỉ, tuyết chưa bao giờ nhiều tới thế, mà có thì ở trong thành phố họ cũng mau chóng dọn đi vì sau vài ngày người qua lại đã làm đen bẩn và ướt nhèm nhẹp. Hiếm có khi nào thấy tuyết còn tinh khôi và bát ngát đến thế này. Lồng ngực cứ căng tràn sự  sảng khoái, còn mặt mát lạnh, tay chân chưa kịp cóng. Cây cối bớt chút khẳng khiu khi đã được tuyết che chắn phần nào. Còn công viên cứ mênh mang, mênh mang.

168985_480063797006_3659970_n 166335_480064707006_7444661_n169086_480063662006_7240203_n

164721_480065472006_4793121_n

Cả lũ lạc lối trong công viên vì quá khó để đi trong tuyết. Công viên lại rộng như cả thành phố, dường như chỉ nhìn màu sắc mà đi. Chỗ nào không phải màu trắng thì tiến tới. Haga park được xây dựng từ thế kỉ 18 bởi vu Gustav III với nhiều khu kiến trúc khác nhau. Ở đây có Royal Pavillon theo kiến trúc đương đại, có Koppartalten kiểu kiến trúc Ý, lại có Kinesiska  kiểu chùa Trung Quốc. Những khu lều trắng xanh kiểu Vikings, rồi những lều kiểu Thổ, thêm những công trình mang dấu ấn Đức. Chỉ vào quần thể này đã có cảm giác đi toàn châu Âu. Haga rất to, đẹp, thú vị nhưng quá lạnh. Tôi vẫn nhớ sự rét run khi tôi và Thu tiến vào lều kiểu Vikings hay khi ném tuyết lên chôn thằng em vì nó có mơ ước được chôn sống. Cái lạnh ngấm hết vào găng tay, vào giầy, vào tất, thấy lạnh chạy dần dần, từ cứng tay tới buốt óc. Lúc đó mới thấy mặt trời đã xuống sâu rồi, chắc là quá trưa. Lượn lại vào trung tâm kiếm ăn, tận hưởng cái ấm nóng của nhà hàng. Tuyết vẫn ở khắp và rơi vào đêm nhiều lắm.

168245_480065387006_7129857_n167218_480064602006_3217090_n 166111_480063907006_7639077_n

Tôi còn nhớ ngày hôm sau, khi thằng em tôi hoàn toàn đầu hàng cái lạnh của trời, cái đau của chân, thì mình tôi và Thu ra đường. Vừa ra cửa đã thấy lạnh cóng, -15 độ không phải trò đùa, nhưng sợ xấu hổ với thằng em vì vừa mắng nó hèn, nên hai đứa dấn thân đi tiếp. Đi trong thành phố ngày Noel, khi mọi người đều đang trong nhà, bên bàn ăn nghi ngút khói, nói những câu chuyện thân thương thì chúng tôi giốn như cô bé bán diêm vậy. Cứ lang thang góc này góc kia, nhìn dòng người thưa thớt mà thấy buồn lòng cho sự không-thuộc-về-đâu-cả. Có vài người vô gia cư đứng xếp hàng trước quầy phát thức ăn miễn phí. Tôi cũng vào để nhận một ly cafe đen, khói nghi ngút, 90% nước nóng, 10% vị cafe, nhưng cũng làm bớt lạnh bởi ánh mắt trìu mến của chị rót cafe. Không phải là cái nhìn hằn học, khinh rẻ, thương hại, mà nhìn thật cảm thông, nó làm cho ly cafe dở cũng bớt dở phần nào. Có ly cafe, hai đứa có thêm chúthơi ấm để đi vào Galam Stan.

164592_480064747006_7215265_n

 164034_480064962006_7194977_n 164847_480064827006_4690448_n

164048_480065227006_3920881_n

Galam Stan

Galam Stan là khu phố cổ của Stokholm, nằm ở hòn đảo nhỏ, giữa thành phố, giữa dòng biển Baltic. Nó cũng hao hao như Notre Dame nằm ở đảo giữa Paris vậy. Ở đây nhà cửa nhỏ nhắn, màu sắc khác nhau, đẹp đẽ nhưng không có dáng vẻ nghệ thuật đa dạng như ở Venice hay đâu đó của Ý, mà nó vẫn cứng nhắc khuôn khổ rất Đức, rất Bắc Âu. Ngay tới các lâu đài hoàng gia cũng vậy, không phức tạp cầu kì, lộng lẫy mà chỉ là tòa nhà màu vàng, đơn giản, nghiêm trang. Galam Stan nhà nhỏ, phố bé, bán các hàng hóa dễ thương, được trang trí thật noel cho khách du lịch nên đi vào đây ai cũng cảm mến. Ai cũng thích cái hình ảnh ấm áp, giản dị của nó, hơn sự trang trọng, hiện đại, mới mẻ còn lại của Stockholm. Stockholm sạch sẽ, quy củ, đẹp nhưng không gợi nhiều xúc cảm. Tôi không cảm thấy quyến luyến nơi này, chỉ nhớ tuyết và cái lạnh cắn răng. Tôi cũng không nghĩ sẽ quay trở lại, dù biết đó là một thành phố rất đáng sống. Tôi hợp với những thứ lộn xộn như Ý, hoặc thật nhiều quá khứ như Paris ấy.

164069_480061872006_904365_n

Vào một ngày nắng đẹp như ngày hôm đó

207274_10150146417682007_4474105_n

Ngày hôm đó, Paris tự nhiên dở chứng, trời tự  nhiên nắng kì lạ. Tôi cũng kì lạ, bỏ học lên thư viện ngồi đọc sách.

Ở ngoài trời mây không một gợn. Nắng nhiều mà không ấm. Cái cửa sổ mở rộng như bức tường trong suốt, tôi chỉ cách 1 cm với tự do. Nhà thờ Tolbiac mái vòm, tháp nhọn gần như với được. Montmatre xa hơn chút, nhìn có vẻ tĩnh lặng. Những ngôi nhà nửa Hausseman, nửa hiện đại làm đa dạng hơn Paris. Và lá cây vàng rực. Hoa không còn sắc màu.

Ngày hôm đó, tôi ngỡ như mình ở Ý, ngỡ như mình về lại Torino. Bởi trời Torino lúc nào cũng xanh và nơi tự học của Polito cũng thế này, một cửa kính rộng, và tôi cách 1cm với tự  do.

Quay lại những ngày xưa cũ ấy, tôi ngồi kì cạch gõ luận văn, tay lăm lăm quyển sách  Small antenna, mà mắt thì hơi chút lại nhìn ra ngoài trời. Tôi hay bị mất tập trung, thích làm linh tinh, hay mơ mộng. Ngày hôm đó, không thấy Hòa ngồi chat với bạn gái ( giờ là vợ) trong tiền sảnh. Hà và Cường cũng không lang thang quanh đây rủ uống cafe. Giang và Ly đã lâu không ghé tới từ  sau lễ phục sinh. Dù 2 bạn ấy thích chết đi được cái hàng lang rộng rãi, dài hun hút, đầy bàn học nhiều ánh sáng này. Hơn nữa nhiều giai đẹp, lại thích làm quen. Ngày hôm đó, em Hiền và Kim đã về Việt Nam. Em Hằng cũng chẳng thấy. Ngày hôm đó tôi ngồi một mình. Học và viết. Bên kia đường cái nhà máy GM vẫn xù xì xấu xí, Mensa thì đã đóng cửa.

Sau nhiều ngày như thế thì tôi viết xong căn bản cái luận văn của mình. Đau khổ, dằn vặt vì những gì mình không làm được. Ở trong lab, có anh bạn tiến sĩ người Venezuela, tên gì nhỉ, Mateo, Matia hay Mathew, anh ta rủ tôi đi uống cafe. ¨Sao mặt rầu rĩ thế¨, ¨Tao làm mãi không xong, liệu có xong mô phỏng được không khi chỉ còn 1 tháng¨, ¨Được, sẽ xong khi mày sẵn sàng¨. Tôi méo mó nhấp cốc cafe Machiato. ¨Biết gì không? ngày xưa làm thạc sĩ, tao viết sai toét cả¨ . Tôi cười sung sướng, đó là câu động viên tinh thần hay nhất. Thực sự nhờ nó tôi đã làm xong được luận văn của mình. Đến nỗi tôi nghĩ nếu phải làm 1 bài diễn văn trước lab sau khi tốt nghiệp, tôi sẽ nói câu này để cảm ơn.

Còn Sergio – anh hướng dẫn trực tiếp của tôi thì thường nói ¨Cứ yên tâm, đâu ai cũng hiểu được ngay đâu¨. Người duy nhất đến xem tôi bảo về là Sergio. Anh ấy trẻ nhưng tóc muối tiêu hết cả, có khuôn mặt hiền và nói gì cũng không chắc chắn. Sergio rất tốt, nhiệt tình, tận tâm. Ngày Sergio bảo ¨Vecchi bảo mày ở lại làm tiến sĩ, apply đi¨ thì tôi có chút tiêng tiếc vì đã nhận lời đi Pháp. Không chỉ vì tiếc ông thầy tóc bạc búi cao, quần đỏ, nói tiếng Anh như Mỹ, nổi tiếng toàn châu Âu mà còn vì tiếc việc được 1 lần nữa làm với Sergio.

Sergio cũng giống Jean Deschuyter hay bây giờ là ông già Karim làm mạch, người luôn rất dễ thương, cười tươi, không bao giờ bực mình khi tôi làm phiền ¨Tao làm xong anten cho mày rồi, nhớ mua kẹo cho tao đấy¨.

Tôi nhớ về Torino, lại không nhớ nhiều về căn nhà chung của 3 đứa. Căn nhà là có lan can bẩn thật bẩn vì Gozde hút thuốc quá nhiều ở đó. Tự nhiên tôi viết cho 2 đứa kia 1 email kể lể sự nhớ Torino của tôi trong ngày này, vậy mà không hề có thư trả lời. Tôi nghĩ, bọn tôi đã ra khỏi Torino rồi thì tự nhiên biến mất khỏi cuộc đời nhau, nhưng khi gặp lại sẽ vẫn vui đấy.

Venky lâu rồi chả nói gì, từ hồi cậu ấy bảo ¨Mày có cái blog gì to lắm à¨. ¨Sao biết?¨ ¨Tao search tên mày thì thấy¨. Rồi câu ta liến thoắng hỏi xem blog về gì, sao không có tiếng Anh? Venky rất buồn cười, lúc nào cũng xớn xác và cà chớn. Khi uống cafe với tôi ở Mario, nhìn cái mặt méo xệch của tôi thì câu ta thường bảo ¨Trời, mày làm tốt mà, mày không phải lo. Tao biết mày¨. Hoặc ¨Tao nghĩ 2 đứa mình là thứ tệ hại nhất MERIT, trừ Alex không tính¨. Cậu ta có cách giải khuây rất tốt. Khi chán, tôi rất mong được nghe cậu ta động viên ¨What a girl!¨.

Năm đầu tới đây, tôi có Lana. Lana vừa hiền vừa tốt. Lana lúc nào cũng kêu bực mình với bà mẹ hay xen vào công việc của mình, tôi đoán bà ấy giục lấy chồng. Lana hay bảo ¨Thôi mày đừng lo, sẽ xong, cần thì hỏi tao¨. Lana giống tôi căm ghét mọi cuộc seminar của lab. Bọn tôi hay nói xấu linh tinh, buôn chuyện giày dép và ăn uống. Lana đã chiến đấu cùng tôi 1 quãng đường khá dài, rồi cô ấy về Libanon mất. Để tôi ở đây, trong cái lab với 3 thằng con trai đáng ghét. Tôi chán quá đi thôi. Hôm nọ Lana í ới, nói vài ba cậu chuyện về tình hình của nhau, chúng tôi giống nhau, hay bị ôm đồm đủ thứ, để không làm xong điều gì lại cuống lên, nghĩ mình là thứ thất bại nhất trên đời.

Sao một ngày nắng đẹp thế này mà tôi đang hớn hở lại buồn. Tự nhiên tôi thấy ở đời không chỉ cần tình yêu, tình bạn, người ta còn cần thứ gọi là tình đồng nghiệp. Giờ thì tôi không muốn bỏ tất cả, chạy vào thiên nhiên như Alex Supertramp, để rồi đến thiên nhiên cũng không bao dung nổi.  Đôi khi người ta cần một tiếng nói từ bàn bên cạnh ¨Yên chí, chúng ta sẽ chiến đấu tới cùng¨ để biết mình có thể kết thúc con đường bất tận này.

Chuyện của mặt trời, chuyện của đôi mắt

301480_10150262219692007_7562144_n

Con mắt còn lại – 8/2011

 Con người hầu hết đều yêu thương ánh sáng.

Họ nói rằng ” Trăm nghe không bằng một thấy” bởi họ chỉ tin vào đôi mắt. Dù đôi lúc đôi mắt không thể thấy được hết những điều quan trọng nhất. Đôi lúc như Saint Expury nói: ” Điều quan trọng nhất thì không thấy được”. Đôi lúc họ chỉ thấy những gì họ muốn thấy. Đôi lúc họ thấy ảo ảnh. Đôi lúc thấy chỉ mặt trời là chân lý. Cũng bởi mặt trời là chân lý, nên Đỗ Bảo mới viết “Chuyện của mặt trời, chuyện của chúng ta” – một thứ bất biến, thứ còn lại luôn biến động.

Một lần đọc Osho, tôi phát hiện ra rằng Van Gogh không phải chết vì nghèo đói hay kiệt quệ trong sự thất sủng của xã hội với tâm huyết của mình. Ông cũng không chết vì chứng bệnh tâm thần đã từng đưa ông vào trại, đã từng cắt lìa tai trái ra khỏi cơ thể, hay đưa ông tới với bác sĩ Gachet. Lúc chết, ông viết cho Theodeo “Tôi tự tử không chống lại ai cả – tôi đã không phàn nàn chống lại bất kì ai hay cuộc sống – cuộc sống đã là sự hoàn thành lớn cho tôi. Tôi tự tử bởi vì tất cả những gì tôi muốn vẽ tôi đã vẽ rồi; bây giờ chẳng có ích gì mà sống nữa. Tôi đã làm điều tôi phải tới làm; công việc của tôi đã hoàn thành.” .

Sự thật thì Van Gogh bị ám ảnh bởi mặt trời. Ông đốt cháy mình dưới mặt trời, để vẽ muôn hình vạn trạng của nó. Mỗi bức tranh, một khuôn mặt mặt trời. Ông vẽ với cái bụng trống rỗng, cái đầu mụ mị, và trái tim tràn ngập tình yêu với nó. Ông phơi mình hàng giờ, như hiến tế tất cả cho mặt trời, mới mọc, lên cao, mây che, chiều tàn, mọi lớp lang ánh sáng. Chỉ là nhìn tranh ông, chúng ta không thấy hết thôi. Trong thời kì ở Auvers- sur – Oise, gần như mỗi ngày Van Gogh vẽ một bức tranh, sức sáng tạo của ông như là vô hạn. Rồi khi thấy mình đã hoàn thành nghĩa vụ họa mặt trời với mọi sắc thái, ông tự tự.

Chẳng phải mình Van Gogh bị ám ảnh bởi mặt trời.

Những người mù đã từng nhìn thấy ánh sáng cũng vậy. Có lẽ họ phải cuồng loạn, đau khổ vô cùng trong thời kì khai nguyên của bịt bùng tăm tối. Những người mù, họ có xúc cảm riêng cho giọt nắng vô hình rơi trên vai, rớt vào lòng tay, hay âm ấm nơi gò má. Khi họ ngước lên, cảm giác như tia nắng ấy cho thể xuyên vào sâu thẳm con người, không mất hút như rơi vào hố đen, mà như chiếc cần câu nhè nhẹ rơi vào ao bèo, rung rinh khe khẽ, rồi lay động thật mạnh khi cá đớp mồi trong tâm hồn. Họ cười nhẹ nhàng, đôi lúc ánh sáng quá mạnh, họ giật mình rồi ảo tưởng giống như khi xưa Mary trong “Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên”. Khi cô bất chợt chói mắt, cô đã tưởng mình nhìn thấy lại được. Chỉ là trò đùa của mặt trời và sự nhanh nhạy của đôi mắt. Nhiều khi đôi mắt phản bội, cho ta cái nhìn sai lệch về bản chất hiện tượng như khi thấy thằng bé có tatoo thì ông già tự nhiên nghĩ đó là thằng lêu lổng. Đôi khi đôi mắt lại bắt ta thấy những điều mình không muốn, như cô con gái bắt được bức thư gửi tình nhân của người bố trong truyện của Phan Thị Vàng Anh. Nhưng đôi mắt vẫn luôn thỏa mãn hơn bất kì loại máy ảnh nào.

Đôi mắt để ngắm nhìn thế giới và cũng để truyền thông điệp tới mọi người. Đôi mắt có sức mạnh thần kì, mang đầy xúc cảm. Đôi mắt sáng quắc của thầy giáo làm lũ học trò ngồi yên không nhúc nhích. Tôi có cô bạn có ánh mắt rất tình, chỉ cần liếc qua đẩy lại kèm vài đồng tác mềm mại thì dù không xinh, vẫn vô vàng chàng ngả rạp. Không có gì đáng sợ bằng đôi mắt giận dữ của bố, không gì đẹp bằng đôi mắt ấm áp của mẹ. Những đôi mắt dịu dàng nhìn nhau, những đôi mắt chứa chan yêu thương mà không cần lời nói. Có bao giờ ai đó gọi, bạn chỉ ngước mắt lên nhìn, chỉ một cái chớp mắt để hiểu rằng mình vẫn đang nghe câu chuyện, mình vẫn đang quan tâm. Tại sao cần phải nói yêu khi đã nhìn nhau bằng một ánh mắt trìu mến? Chỉ một cái chớp mắt khác, ánh mắt ấy sẽ biến mất nhanh chóng, nhưng có thể sẽ bị ám ảnh dài lâu. Đôi mắt tự thân nó có ngôn ngữ riêng, vừa đáng yêu vừa đáng sợ.

Con người chúng ta có 3 con mắt. 2 con mắt lộ ra ngoài và đôi mắt thứ 3 giấu ở giữa trán. Ngày xưa tôi đọc 1 quyển sách về con mắt thứ 3 của một nhà giải phẫu người Nga. Ông ấy đã nghiên cứu thấy có chất dịch kì lạ ở giữa trán của con người, có thể tập trung năng lượng ở đó, do đó có 1 số người có thể nhìn được thế giới bên ngoài bằng con mắt này khi bịt 2 mắt kia. Nhà giải phẫu tìm đến với Tây Tạng bởi giả thuyết ngày xưa con người rất to lớn và họ có 3 mắt lộ ra ngoài. Sau này một con mắt đã bị triệt tiêu đi, có lẽ vì thế giới ngày càng kém tò mò. Sự khám phá của con người với thế giới đã đủ nhiều để họ dừng chân, xây nhà, sinh con, lập đô thi, tạo đất nước, con mắt thứ 3 biến mất. Nhưng đâu đó trong chúng ta,con mắt thứ 3 vẫn tồn tại, thỉnh thoảng vẫn lờ mờ thấy gì đó, dù mắt nhắm. Con mắt thứ 3 để đôi lúc chúng ta nhìn chính con người mình.

Đôi mắt ở những ngôi đền ở Tây Tạng trên đỉnh núi cao vẫn nhìn xuống, theo dõi cuộc sống của chúng ta. Những đôi mắt trong lòng bàn tay, bàn chân thì sao? Đôi mắt Hamsa hay đôi mắt Talismans của người Ả rập giúp chúng ta chiến đấu lại những đôi mắt quỷ dữ.

Hôm qua tôi xem 1 bộ phim của Woody Allen “To Rome with love”, phim có số IMDB thấp xỉn, nhưng hay hơn Midnight in Paris, tôi nghĩ thế. Bởi nó thể hiện được tinh thần rất Rome: rắc rối, bốc đồng, đam mê. Trong phim có 1 ông già khi tắm hát hay như danh ca, nhưng khi lên sân khấu thì chịu không hát được. Sau đó thì ông bầu của ông ta đã thiết kế ngay cái bồn tắm trên sân khấu cho ông ấy thoải mái. Một ông già vẫn còn đam mê được hát và hơn hết là sự lim dim tận hưởng và ánh mắt ngưỡng mộ của người khác. Trong phim kể về 1 ông trung niên khác, chỉ là một nhân viên công sở bình thường, bỗng chốc được thành người nổi tiếng. Rắc rối vây quanh, ông ấy ao ước trở lại bình thường. Đến ngày ánh hào quang rời đi, ánh mắt tò mò, hâm mộ bỏ đi thì ông ấy hoảng loạn như phát điên. Ai cũng thèm những ánh nhìn từ người khác, thật thân thương, ấm áp,  hay ngưỡng mộ, chứ không phải ánh mắt hồ nghi hay sắc lẹm.

Em trai tôi có trò rất hay. Mỗi khi đi ở metro hay trên đường, nếu thấy những cô gái nhan sắc tầm thường, có vẻ tự ti, nó thường nhìn theo, thậm chí ngoái cổ nhìn lại với vẻ rất thích thú. Nó nhìn cho tới khi cô gái ngượng ngùng nhìn ra chỗ khác. Nó nghĩ rằng cô gái kia sẽ nhìn thấy ánh mắt ngưỡng mộ ấy, để về nhà nghĩ ngợi, mừng thầm rằng hôm nay đã có một chàng trai nhìn mình cơ đấy.