Paris trên tường

Tháng 4 sắp hết, hoa đào rụng, hoa lê tàn, tulip còn tươi. Có loài hoa tim tím, hương nhè nhẹ, nằm tít trên cao tên Lilas hay tên tiếng việt nghe như 1 chàng hiệp sĩ – Tử đinh hương vẫn rợp trời, như hoa bằng lăng, hoa phượng. Loài hoa này và hoa tuyết luôn làm tôi nhơ nhớ hồi thơ bé. Hồi còn đọc truyện cổ Andersen hay truyện cổ Grim có kể về cô bé bị ốm, nằm trên giường, đi lạc trong giấc mơ có mùi tử đinh hương. Tôi lạc mất tên truyện. Còn câu truyện khác, có cô bé đi lạc trong rừng, nhờ vị thần mùa xuân tìm cho ra bông hoa tuyết Crocus cho bà mẹ ghẻ, hình như là truyện 4 vị thần. Những câu chuyện hồi đó thường làm đầu óc trẻ em lạc đi trong thế giới thần tiên nước ngoài.

 10259469_10151996398292007_612813059_n

Giờ tôi ở đây, trong một thành phố đông người nhất châu âu, rộng nhất châu âu, cũng hoang mang không khác gì đi lạc trong cánh rừng già. Paris cho người ta nhiều cảm giác khác nhau: xấu, đẹp, ghét, thương. Tháng 4 lại càng làm người ta lạc lối. Đã là tháng 4 nhưng thời tiết Giboullee en mars vẫn ắp đầy. Sáng nắng, chiều mưa, lạnh nóng xen kẽ. Mới 2 phút trước mưa ào ạt, giờ đã nắng tưng tửng, quàng khăn thì nóng mà bỏ ra là viêm họng.

Lúc này, cây cối xanh mơn mởn. Các khu rừng đều rất đẹp và tươi. Như rừng Sénart ấy, cây lên non xối xả, hươu nai còn chạy long nhong chơi, bất chấp người ta đạp xe dọc ngang. Hoa cải thì vẫn vàng rực rỡ. Cả lũ hối hả đạp xe, chẳng phải suy nghĩ gì, thấy mình cũng đễnh đãng như mấy ông bà già, chỉ biết mỗi con đường và người đi trước. Thiên nhiên lúc này đẹp vô cùng nhưng không có nét lạ lẫm. Chỉ có thời tiết gây ấn tượng với cảm giác và góc nhìn.

Con phố ấy mới mưa còn ướt át. Nắng lên nhanh đã kịp hong khô, quang sạch. Những bức tranh trên tường nhờ vậy mà mang những xúc cảm khác nhau. Butt – aux –  Cailles có rất nhiều bức tranh tường đầy chất nghệ thuật làm người ta phải chiêm ngưỡng.

IMAG0500 IMAG0496 IMAG0498

Dĩ nhiên trong nắng thì bức tranh nhái Dahlí cô gái nhìn ra cửa sổ ấy thật tươi vui, cảm giác cô ấy đang tận hưởng không gian đa sắc bên ngoài, mà nếu mưa thì lại có cảm giác cô ấy đang bí bách trong nhà cần giải thoát. Liệu trong bối cảnh nào thì người ta mới tưởng tượng là cô ấy đang ở ngoài, ngó vào nhà người ta? Chắc không bao giờ, khi mà đôi chân trần, cái váy ngủ nhầu, và những ngôi nhà cao tầng ở bên kia ô cửa vẫn đánh đậm vào nhận thức logic của người xem.

IMAG0405

Trời nắng làm bóng cậu bé chạy thật hơn, mấy người bay như được nâng cánh, còn thằng hề thêm nhảm nhở.

IMAG0406

IMAG0407

IMAG0402

Trời mưa lại làm những hình vẽ của Seth dễ lý giải. Họ chạy trốn vào tường tránh những cơn mưa.

IMAG0499 IMAG0403 IMAG0495

IMAG0475

Còn đây có thể là nguyên nhân gây ra mưa.

IMAG0504

Đèn

1462972_10151727767992007_1055048746_n

Tôi chẳng biết phải bắt đầu thế nào. Tại sao lại viết về Đèn, tại sao lại là Đèn?

Đèn với ánh sáng vàng ruộm của nó nơi góc đường, thường làm tôi nhớ về những kỉ niệm xưa cũ. Ánh sáng hiu hắt ấy làm tôi thương cái đèn leo lét treo ở đầu bếp nhà ông, nơi mà các con thiêu thân hàng đêm vẫn bu đen kịt. Bà cầm cái quạt làm bằng mo cau cố đuổi con măn mắt. Chúng từng đốt chân tôi sưng như voi, mà chỉ tôi thôi. Ông bà hay bảo ¨Thịt thành phố có khác¨. Bọn trẻ con ở nhà quanh năm có bao giờ bị đốt. Tôi ghét sự tù mù ở ngôi nhà ngói đó, nó ảm đạm, mệt mỏi theo tiếng con bóng đêm oàm oạp ở phía sau bụi tre, cây bưởi. Con vật đó có thể con ếch, con nhái, hoặc con ba bị có hình thù kì quái, hẳn phải có cái túi khí thật lớn, hai cái mang phịnh ra, kêu như thổi kèn, kéo khí. Không ai ở đây tả cho chúng tôi  về con vật đó, chúng tôi chỉ nghe tiếng rồi tưởng tượng bên kia hàng rào đó là gì?Người ta sống quen ở đây, coi cái tiếng kêu dáo dác, rền rền đó là sự hiển nhiên, đơn giản như bóng tối về đêm. Còn tôi, tôi không chịu nổi, ghét cay đắng, như việc bị ngứa vì con mạt tổ chim rơi trúng quần áo, bò khắp người, như việc bị đau nhói vì con măn mắt cắn. Tất cả những con côn trùng kì dị đấy sống ở nơi mà ánh đèn không bao giờ chạm chân được tới được.

Ánh đèn cũng làm tôi nhớ đường phố mỗi tối mẹ đèo đi học thêm về. Hè đó chúng tôi ôn luyện vào lớp 4 chọn. Đêm tối trong tâm trí đứa trẻ không là nỗi sợ của bóng ma, chỉ có nỗi sợ của những con số. Mỗi chiều muộn, tắm rửa sạch sẽ mẹ đèo đi học từ sớm, có khi chưa kịp ăn gì. 9h mẹ lại chen chúc đợi trước cái đèn ở cổng nhà thầy. Mới 9h mà cả thành phố đã yên ắng như ban trưa, chẳng còn mấy tiếng còi xe, chẳng còn nhiều xe ba gác ngang dọc, chỉ có mấy chiếc xe tải thi thoảng ì ạch lết qua. Chỉ tiếng ho nhẹ nghe cũng vang lạ. Mẹ đạp chậm chậm, hỏi xem ¨con đói không, nay có canh rau ngót¨, ¨tối nay học được gì, thầy giảng có hiểu không?¨, ¨cái Thủy nhìn thông minh nhỉ¨. Hồi đấy bạn Thủy là hot girl của lớp vừa giỏi vừa xinh nên phụ huynh nào cũng biết, và đương nhiên ¨con người ta luôn giỏi hơn con mình¨. Thực ra mẹ ít khi so sánh, mẹ thường hiểu ngầm vậy thôi.

Đèn gắn với mỗi con người, giống như mặt trời. Nó là quá khứ, tương lai, hiện tại. Nhiều khi ta không nhận ra sự tồn tại của đèn. Vào nhà tối, tự khắc đưa tay bật công tắc, không cần ai bảo ¨Bật đèn lên đi¨. Lúc đó rõ ràng thấy mình cảm nhận nó thản nhiên như việc thở.

Hồi mẹ mới sinh, mẹ lo lắng nhìn ngắm cách kiểu xem đôi mắt của em bé có giống mắt mình không ? Mẹ 1 mí lấy bố 3,4 mí, chỉ hi vọng đẻ được đứa con 2 mí. Kết quả thì, như mọi người vẫn đau lòng nhận thấy : tôi 1 mí, thằng em mí rưỡi. Nhưng sự thật ấy được tôi giữ kín mít trong những ngày đầu đời. Tôi cứ nhắm nghiền mắt ngủ, mặc cho mẹ có những linh cảm mông lung. Trẻ con thì sáng ngủ, tối thức. Tối, tôi thức dậy oe oe, mẹ lấy đèn dầu lại, soi xem mắt con mình thế nào thì tôi nhắm tịt lại ngay. Đợi mẹ đi ngủ thì lại thức dậy. Hồi đấy, đèn dầu đêm nào cũng thắp. Mẹ bảo đêm nào tôi cũng dậy chơi. Mãi sau này biết bò, thì thường bò tới góc màn nhìn ra cây đèn dầu ngoài bàn. Giống như đèn dầu là thứ đồ chơi đầu tiên vậy.

Theo thời gian thì đèn dầu thay bằng đèn điện tròn, treo giữa nhà, lập lòe, chập chờn, cũng tù mù, nhưng chơi được trò tạo bóng. Sau ra nhà mới thì cũng như mọi nhà, bóng đèn tuýp đến, sáng rực rỡ, ánh sáng trắng làm rộng cả căn nhà. Cứ chiều chạng vạng, nắng tắt, sáng nhập nhoèn, bật cái đèn tuýp lên là thấy vui trở lại. Nhưng học dưới đèn tuýp có vẻ không tốt cho mắt nên bố quyết định phải sắm cho cái đèn bàn.

Đèn bàn tới nhà là một sự kiến quá lớn lao, đánh dấu cuộc đời đi học có bước chuyển mới. Đèn bàn vốn chỉ thấy ở trên phim, nơi các anh chị sinh viên ngồi trên giường, có một cái bàn be bé, bật đèn bàn lên, rồi học miệt mài. Tự nhiên nghe bố bảo đi mua đèn bàn lại thấy mình như sinh viên vậy, sung sướng hơn cả được mua đồ chơi. Bố đèo ra nhà chú Thao, cho lựa thoải mái. Tôi mua cây đèn màu đỏ, chân đen, có đế như cái kẹp quần áo, nhìn thật sành điệu. Mang về nhà mới phát hiện ra bàn nhà là bàn hộp. Loại bàn mà mở nắp lên là có cái hộp gỗ như quan tài, đựng được sách vở bút thước, xưa thông dụng ở trường cấp 3 lắm. Ông thấy hay nên mới bê về một cái cho cháu học tiện nghi. Có điều bàn như thế thì không có mép, không kẹp nổi cái đèn bàn. Dù tiếc cái đèn sành điệu lắm, nhưng bố vẫn bắt phải đi trả, lấy cái đèn bình thường, đơn giản, màu xanh, là loại mà trong từ điển sẽ trang trọng in hình bên cạnh định nghĩa Đèn Bàn.

 Có đèn bàn nghĩa là phải học chăm hơn, khuya hơn, ngoan hơn. Có đèn bàn nghĩa là phải tắt đèn tuýp đi, chỉ bật mình đèn bàn thôi. Những ngày đầu thì 2 chị em cũng khí thế học, thấy giỏi hơn hẳn. Được 1 tuần thì xếp đèn vào một xó trang trọng, bật đèn tuýp lên tiếp tục học, uống Tobicom cho bổ mắt. Bởi dùng mình đèn bàn thì dưới chân là thế giới bóng đêm, muỗi bu vào hút lấy hút để. Đèn bàn lại nóng ơi là nóng. Ngày hè dùng đèn bàn vừa nóng vừa ngứa, mồ hôi mồ kê toát ròng rã. Đèn bàn mà dùng kèm đèn tuýp thì chết tiền điện, vậy là hủy ngay 1 cái. Bố cũng đành bó tay. Mãi đến sau này cũng không dùng lại đèn bàn, có lẽ phải tới khi đi du học, sang xứ ít nóng, ít muỗi thì mới thấy lại công dụng của nó.

Tháng trước mất thêm mấy trăm euros tiền điện nên một kế hoạch tiêu dùng tiết kiệm ra đời. Đèn trong phòng ngủ chỉ bật một cái, nên nhà cửa rất nguyên sơ. Khi đó thật không muốn làm gì, chỉ nằm nghe nhạc. Hai chị em có cảm giác giống hồi không còn bé mất điện, lúc đó chỉ ngồi không cũng thích. Khi bé thì mất điện chạy chơi, nhưng lớn lên, mất điện chỉ chạy ra ban công ngồi, cả nhà mỗi người một ghế, nói chuyện linh tinh. Được hôm nào trời mát thì nhất. Đợt này nhà có thêm cái giàn nghe nhạc, tiền thì không đến nỗi túng như tháng trước, nhưng đèn vẫn bật èo uột, đôi khi lại thắp nến. Sau đó bật cái đĩa nhạc của một ông nhạc sĩ đường phố tên Glee Glee lên nghe, chuyển qua Velvet underground,  rồi Division bells của PL.

Những lúc đó, đèn cả căn nhà đều tắt, chỉ đèn bàn của em được bật. Nhạc vẫn vang lên. Tôi đi vào nhà tắm, cửa gác mái mở, trăng thì tràn ngập, sáng tới nỗi không cần bật đèn. Tôi nhớ cái cảm giác mình trèo qua cửa của nhà tắm bố thuê ở Seoul. Cửa đó dẫn lên sân thượng phơi quần áo. Từ sân thượng này có thể đi qua nhà người khác được. Từ nhà bố có view nhìn ra cả khu rộng. Khu vực đó của Seoul gần ngọn núi của trường đại học Seoul nên đường dốc. Mỗi lần đi chợ về nhà là thở phì phò, mệt hắt ra. Tối tôi chui lên sân thượng mát mẻ, ngồi nghe nhạc trong cái MP3 bố mới mua. Bố mua cho 2 đứa 2 cái cái y chang, màu trắng, xinh vô cùng, sau đó bố nhờ chú nào đó cóp cho ít nhạc. Không hiểu sao trong list có bài Mama của một cậu bé nào đó, nghe hay và buồn kinh khủng. Tôi thường nghe đi nghe lại bài đó trên sân thượng không đèn.

Đèn, có lẽ có quá nhiều kỉ niệm với đèn, mà người ta chỉ đơn giản là không nhận ra. Nó hiển hiện, đơn sơ, dung dị quá mà .

Cuộc sống ở quảng trường

Trong 1 thành phố, cuộc sống luôn rộn rã nhất ở quảng trường và chợ.

Ở chợ, cuộc sống luôn là cuộc sống thật, nơi những mặt xấu ác đều được phô bày. Còn quảng trường lại khác, nó giống như một sân khấu lớn, người ta tới, diễn, hạ màn, người khác sẽ lên. Mỗi ngày hàng chục, hàng trăm vở diễn ra đời với hàng trăm, hàng nghìn nhân vật. Quảng trường đa sắc, phong vị như chợ nhưng có gì đó chau chuốt, làm màu hơn, bởi cái không gian mở ấy dành cho mọi người – diễn và xem.

Tôi bắt đầu ý thức về cuộc sống nơi quảng trường khi lần đầu tiên xem bộ phim Nouvo Paradisco Cinema, đó là một bộ phim Ý thú vị, sâu sắc, và xúc động nhất. Ở nơi làng quê, Giaculdo, cuộc sống của người dân phơi bầy nơi quảng trường trung tâm. Đàn bà nhuộm vải, đàn ông xén lông cừu, lũ trẻ được tắm dưới vòi nước, những ông già ngồi hút thuốc, chơi xổ số và xem phim. Ở nơi đó, giấc mơ của họ bé con con như những ngôi nhà gạch, giấc mơ lớn nhất là trúng một phiếu lô tô, hoặc là chủ nhân của cái quảng trường đó. Đó là bộ phim phản ánh thực tế nhất cuộc sống vui nhộn của nước Ý không chỉ ngày xưa mà ngày nay cũng vậy. Cuộc sống của họ vẫn quây quanh quảng trường.

Sự thực thì cuộc sống ở quảng trường hiển hiện từ lâu. Đâu đó nơi Tượng Đài Lý Thái Tổ chỗ bọn trẻ vẫn rủ nhau trượt patin và nhảy hip hop hay Nhà hát lớn khi đêm về lại tụ tập. Chỉ là tôi vô tình đi qua, vô tình không nhận thấy, giống như kẻ dạo chơi ở thành phố của mình.

IMG_0643  IMG_0645

Một buổi sáng, tôi đứng chờ tram ở quảng trường Statuto trong lúc nửa tỉnh nửa ngái ngủ thì một sức mạnh vô thức nào đó đã mở toang vẻ đẹp sống động của quảng trường. Có lẽ nhờ tiếng đập cánh của con bồ câu bé nhỏ mà con mắt trần trụi được đối diện trực tiếp với vở diễn sau bức màn dày đặc ngày nào. Hôm đó, có gió thổi và từng con bồ câu đang bay lên trong nắng sớm. Chúng bị náo động tiếng bước chân vội vàng chạy theo những chuyến xe lướt qua những ngôi nhà kiến trúc Liberty. Đá trên đường sáng bóng, ấm chầm chậm theo mặt trời. Ngày xưa khi Torino còn là thủ đô của vương quốc Savoie, có ông vua đã bắt lá đá toàn bộ khu vực này, để có thể nghe được rõ âm thanh vó ngựa khuya trên đường. Cái âm thanh sống động đó  mang hơi thở vồn vã của không gian vài sự gấp gáp của thời gian. Tôi hiểu sự gấp gáp ấy rõ ràng khi những ngày cuối năm học ở Polito tới ngày một gần.

Đáng lẽ tôi phải cảm nhận được cuộc sống sinh viên vô ưu, sung sướng của mình từ những ngày còn ở Louvain la neuve. Ngôi làng nhỏ bé ấy có cái quảng trường Place de l’universite thật rộng. Ngày đầu thu, những chùm hoa màu hồng, màu trắng rủ xuống mỏng manh trên bức tường gạch. Sinh viên từ đâu kéo tới đông rộn ràng. Họ đứng, ngồi, tắm nắng, chạy nhảy đợi giờ học. Ngày thứ 7 các xe tải chở đồ ăn kéo tới, lập thành chợ trời tấp nập. Ở đó có cái xe bán nem của chú người Việt Nam mà ngày đầu Alex tới đã chụp ngay gửi khoe tôi. Còn ngày chủ nhật, sân khấu này là của lũ trẻ con hướng đạo sinh. Dù nắng dù mưa, chủ nhật nào bọn trẻ cũng tụ tập tại đây, tới chơi các trò đuổi bắt. Cứ thế, dù thành phố nhỏ bé này có thể heo hút ngày cuối tuần, nhưng quảng trường Place de l’universite không bao giờ vắng vẻ.

Không vắng vẻ nhưng tất nhiên nó không thể sầm uất, đông đúc như San Marco của Venezia. Quảng trường chim bồ câu là tụ điểm chính của thành phố nước,  được bao quanh bởi các nhà hàng cứ hàng đêm lại có piano đánh ngoài cửa, nên có lẽ chẳng đâu lại đông như ở đây, nhất là vào dịp Carnivale tháng 2. So sánh với San Marco có lẽ quá vô lý, chỉ nên coi quảng trường làng ấy như một nửa của Place Republique ở Paris là được rồi. Kì lạ là Paris to đẹp là thế nhưng ít có quảng trường nào thật sự là trung tâm, trong khi Bruxelles bé nhỏ có cả một Grand Place nhộn nhịp và trộm cướp. Ở Paris người ta có thể tụ tập ở Luxembourg, kéo tới dọc sông Siene, đứng trước Notre Dame, ngồi ở Trocadero, ngồi bệt ở bậc thang Opera, khoanh chân trước Pantheon, thư thái trên đỉnh  Sacre  Coeur, đôi khi nằm xõng xoài ở Champs de mar ngay chân Người đàn bà thép, nhưng lại không có nơi nào gọi là quảng trường chính. Place Republique có lẽ là quảng trường hiếm hoi mà người ta có thể kéo tới, ngồi lại, trước khi có thể tìm thấy niềm vui ở đâu đó như ném đá trên kênh Saint Martin giống Amelie Poulain.

Điều này cũng là sự khác nhau chính của Pháp và Ý. Không chỉ đơn giản một nơi  Boulangerie bán bánh mì khắp nơi nhưng kem thì không có, một nơi lại dễ dàng tìm được Gelateria phục vụ kem cả bốn mùa còn bánh mì thì không. Ý khác Pháp ở chỗ quảng trường ở Ý nhiều vô kể. Thực ra chê nước Pháp cũng không phải bởi ở Anh hay Bắc Âu cũng đâu có văn hóa quảng trường đặc trưng như người Ý. Người ta tới  hội họp, nói chuyện vui vẻ, không tới mức cắm trại, uống trà, bàn chuyện chính sự như ở Tahir của Cairo, nhưng cũng đông vui như Taskim của Istanbul. Taskim nhộn nhạo, 12h đêm vẫn luôn đầy người, họ ngồi thành từng tốp nói chuyện vang trời. Những quán bán trà đen vẫn mở. Những người phụ nữ áo chùng đen hiếm khi ra ngoài, vậy mà 12h đêm tôi vẫn gặp ở Taskim, thế là đủ hiểu cuộc sống ở Istanbul gắn với quảng trường thế nào.

308931_10150382371045030_1805494499_n

Piazza Castello (Giang chụp)

Cuộc sống người Ý cũng vậy. Có lẽ do cái chất thân thiện, hồ hởi, hòa đồng, thích lang thang, dân Ý mê đường hơn ở nhà. Ngày nắng đẹp, quảng trường Castello – trung tâm Torino luôn đầy tràn các cô gái váy ngắn, những chàng trai quần short, họ đứng nói chuyện và ăn kem. Có thể họ mua vội ở Grom trên con đường mua sắm Garibaldi, hay từ hàng kem sữa chua đối diện Castello  hoặc  những hàng kem cách nhau chỉ vài chục mét trên đường Via Po. Gelato ngon ngọt trên cả tuyệt vời, thật khó cưỡng mà chẳng tội gì phải cưỡng cả. Tôi thích mê kem nocciola ngọt bùi của hạt dẻ hazel nut có màu nâu nhạt và vị Pistachio u xanh mướt. Tới bất kì Gelateria nào, ở bất kì thành phố nào, đó cũng là vị được ưu tiên số 1. Sau đó, sự ưu ái sẽ chiếu tới kem dừa, kem sữa chua, Amarena với quả cherry ướp rượu, Straciatella với cái tên dài như cả thế kỉ có vị bánh quy, rồi kem nutella và tiramisu với vị ngọt thân thuộc. Tất cả nhét và thân ôc quế cho một buổi chiều hè hóng gió ở quảng trường. Đi xa nước Ý, tôi nhớ đắm say gelato và những ngày quảng trường có gió có nhạc ấy.

305471_10150382369420030_1115553604_n 292861_10150382368780030_1016197838_n 221790_1963215927881_3402927_n

Ở quảng trường Castello thường chiều tới có anh  chàng đẹp trai chơi ghita và hát những ca khúc tiếng Anh quen thuộc. Anh hay, rất hay, rất nghệ sĩ luôn là sự yêu thích của Giang. Trong khi ông già đánh accordeon dọc Via Roma một buổi tối mưa đã làm Ly thổn thức. Còn tôi đã xúc động vô cùng khi mặc cho mình ướt nhoẹt, đứng lại nghe một ông già chơi đàn, ông đã hôn tay tôi cảm ơn ở quảng trường San Carlo. Ở Torino, ngay cả đêm nhạc MTV  người ta không mang vào sân vận động mà biểu diễn ngay tại Castello. Castello đông vui, nhộn nhịp, ầm ĩ như khu fan zone của Varsava ngày EuroCup. Hôm đó người dân ở đây tụ tập vui vẻ cùng uống bia, xem bóng đá trước tòa nhà sừng sững như lô cốt – Palace of Culture and Sience. Món quà to lớn của Liên Xô này người Ba Lan chưa bao giờ thích và từng có thời không đón nhận. Thế nhưng như người ta nói: bóng đá và âm nhạc luôn là sứ giả của hòa bình.

Âm nhạc ở quảng trường hiển nhiên như trong bữa ăn phải có pasta của người Ý. Âm nhạc và tranh vẽ ở Navona làm tôi luôn yêu Roma sau tất cả những nóng nực, gồ ghề, bẩn thỉu mà nó mang lại. Tôi thích Navona hơn tất thảy nhưng Popolo, Venezia, hay vòng tay chúa trước Vatican. Navona là Roma, Roma là Navona. Bởi hàng ngày, những nghệ sĩ vẫn tụ tập ở đây, họ hát múa, diễn kịch, mang tranh ra tô vẽ cho quảng trường 4 dòng sông. Ngày tháng 7 ấy, tôi tựa vào vai mẹ liu diu ngủ, tôi biết mẹ thất vọng về Roma lắm, còn bố có lẽ thích sự lộn xộn ở đây.

312516_10150272123462007_6673718_n

Đó là nước Ý, là quảng trường Ý, là cuộc sống Ý. Những quảng trường dù nhỏ xíu, dù chẳng có nổi một bồn phùn nước, dù chẳng có gì ngoài một vòi nước róc rách – mà người Ý vẫn gọi là cái mũi như ở Sperlonga thì vẫn ắp đầy sự sống. Vậy đâu là nơi sống động nhất? Một người Mỹ nói rằng đó là Piazza del Campo của Siena. Thật kì lạ là cái thành phố yên bình, bé nhỏ, ít khách du lịch ấy lại sống động hơn cả, xếp thứ 2 thế giới, chỉ sau 1 quảng trường ở Mexico. Piazza del Campo của Siena có sự khác lạ. Quảng trường này có hình vòng tròn, xây bằng gạch, dốc thoải xuống, giống như một cái lòng chảo, khác hẳn sự phẳng lì, vuông vức, đá lạnh của những người anh em. Có lẽ chính màu đỏ au ấm nóng của gạch, sự hút dốc vào trung tâm đã kiến tạo nên lỗ đen lôi kéo người ta tới đây bất kể lúc nào. Họ nằm, họ ngồi, họ đứng, họ tán dóc, họ cười đùa, họ hôn, họ ôm, họ giằng co, họ cãi vã, họ chỉ không được ăn ở đây. Với cấu trúc giống như một nhà hát ngoài trời, quảng trường Campo lại càng mang cho tôi ám ảnh sân khấu. Nhưng ngoài những người nghệ sĩ, chúng tôi, chúng ta đâu cần phải diễn.

Quảng trường hay cuộc sống này không chỉ để ngắm nhìn, thưởng thức, mà phải lao vào, lao vào, lao vào nó hết mình.

Dự cảm những chuyến đi

Salvador-Dali-Girl-Standing-at-the-Window-1925-large-1034380391

Vài ngày trước khi đang chat với hội bạn, thằng Huy del kêu lên “Ông nội tao vừa mất”

Như lẽ tự nhiên, 3 đứa còn lại cũng buồn lây cho bạn. Hiệp bảo “Nay giỗ ông tao”. Tôi nhớ ra hôm trước là ngày giỗ ông nội mình. Còn Hà Gô bảo “Cũng sắp tới ngày giỗ bà tao”. Chúng tôi nói về sự mất mát giống như ngày hội yêu thương. Giống như ông bà của tụi tôi cũng đang gặp nhau, buôn chuyện ở trên kia. Giống như Dũng khùng kể chuyện “Có lẽ ba tôi đang uống rượu với chú Sơn” bởi năm nay ngày giỗ của Trịnh Công Sơn cũng là 49 ngày của Nguyễn Quang Sáng. Có khi nào họ hẹn hò nhau không?ông bà chúng tôi ấy?

Thật buồn vì giờ cả tôi và Huy del đều không còn ông bà nào. Tôi cũng không biết vì sao cứ nghĩ tới điều đó là có thể khóc ngay được. Cứ tưởng tượng khi không còn thứ gì đó thì tiếc biết bao. Chỉ đơn giản như cái nhà cũ không còn được về nữa, nghĩ cũng đã buồn, huống chi đó là ông bà mình. Tôi có thân với ông bà không? Có lẽ không phải khi đã lớn, khi đã biết học, biết chơi, biết thế giới bạn bè .Tôi ít quan tâm và thờ ơ lắm.

Tôi thân với ông ngoại hồi còn chưa đi học. Nhưng cũng như cậu nhóc Sobrah trong Người đua diều buồn bã vì dần quên mặt cha mẹ thì tôi cũng thật buồn khi nói hình ảnh tôi nhớ về ông ngoại chỉ là bức ảnh trên bàn thờ. Qúa lâu, quá xa cho bộ nhớ chỉ dành để nhớ mấy thứ vặt vãnh lá cải. Thi thoảng tôi có nhớ hình ông xẹp lép như bộ xương trên giường. Khi đi học, tôi bám với ông nội nhiều hơn. Người thầy đầu tiên để lại trong tôi hình ảnh vô cùng đẹp của một người bộ đội cụ Hồ. Cuộc đời ông rất viên mãn, khác hẳn ông ngoại. Lừng lẫy là thế nhưng những năm cuối đời, ông gầy đi 1 ít, tóc xoăn hơn 1 ít, miệng hơi hô, chân kéo lê, đái rất khai, lẩn thẩn, cười ngờ nghệch. Khi đó ông rất buồn cười, không có vẻ phúc hậu ngày nào mà xơ xác, buồn bã nhất là sau khi bà nội mất.

Tôi nhớ một hôm. Hôm đó chắc là mùa hè. Bà nội gọi 2 chị em dậy sớm. Bà bảo đánh răng, rửa mặt, ăn mặc đẹp vào. Trong khi 2 đứa còn đang ngái ngủ thì ông và bà lôi ngay ra ngã ba bia. 4 chúng tôi đến tiệm chụp ảnh. Bắt đầu bằng bức hình ông bế tôi, bà bế thằng em, tất cả cười tươi trên nền phông xanh. Tôi nhớ mắt tôi sưng húp, nhắm tịt do vẫn chưa tỉnh, còn thằng em vẫn xinh nguyên như thế. Sau đó ông bà chụp cùng nhau, không ôm eo, khoác vai, mà ngồi trên ghế, lưng thẳng, mắt nhìn thẳng, tay chống thẳng lên đùi. Bà chụp 1 tấm riêng, ông chụp 1 tấm riêng. Ông bà rất hài lòng, lúc về còn mua kem cho ăn nữa.

Bây giờ tôi mới biết lúc đó ông bà đi chụp ảnh truyền thần. Ông bà đã có những tấm ảnh rất đẹp. Khi đó họ còn trẻ, khỏe, vui vẻ, không sợ hãi nhưng luôn dự trước chuyến đi cuộc đời mình.

Tôi luôn thích đi đây đó nhưng đơn thuần chưa bao giờ dự cảm được chuyến đi của mình. Toàn tưởng tượng mình sẽ làm được điều này điều kia nhưng không thể. Tôi đã từng tưởng mình có thể đi Mỹ, đi Nhật, đi châu Phi, thế nhưng mãi vẫn chôn chân tại 1 vị trí. Thỉnh thoảng tôi hơi bất mãn, rồi nghĩ đâu cần phải vội. Mình không thấy được những chuyến đi, nhưng những chuyến đi sẽ tự tìm đến, cách này hay cách kia, lúc này hay lúc khác. Điều tốt nhất bây giờ là ngồi yên, tâp trung tất cả cho công việc thực sự của mình, không loay hoay làm việc này việc kia, nghĩ đi đây đi đó. Hình như, mình đang bắt đầu đi vào sự ổn định nho nhỏ. Ổn định không phải là ngồi nhà, ổn định chỉ là dừng lại, uống tách trà, ăn bánh đa, lấy sức mà bước đi tiếp, đi dài và đi xa hơn.

Con chim hót trong vườn tôi

 trinhcongson

Vào một buổi trưa nắng oi ả, tôi nằm không thể nào ngủ được, một bên tai cái quạt con cóc kêu lọc xọc, bên tai kia là tiếng nhạc rền rĩ vang lên từ nhà hàng xóm xa lắc lơ. Trời nóng, nhạc da diết, đó là thứ một đứa trẻ con không bao giờ chịu được. Bỗng “Gọi nắng trên vai em gầy……” vang lên đầy da diết giữa trưa vắng. Tôi lắng nghe chăm chú, chậm rãi, tiếng nhạc leo lắt từ xa, làm tôi quên cả cái nóng nực, cả cái cảm giác khó chịu ban đầu. Năm ấy tôi học lớp 3, lần đầu tiên được nghe Hạ trắng. Lô Thủy với tiếng hát êm dày của mình đã mở cánh cửa đưa tôi vào khu vườn bí mật ấy. Khu vườn của Trịnh.

Với nhiều người, Trịnh đưa họ về trong những phố xa lạ. Họ tìm thấy mình lẻ loi trên những gác mái tiêu điều, trên những đường phố buồn, hay tần ngần đứng bên bờ dậu đợi từng người bước qua đời mình. Từng người tới, tùng người đi, hiển nhiên như những dòng sông phải về với biển. Cái phố ấy dù đìu hiu buồn nhưng vẫn có nắng lên. Nắng chạy dài từ phố thị, về muôn trùng biển khơi, thỉnh thoảng ném chút vui lên Blao buồn bã, rồi về buông thõng qua những con đèo. Nắng len lỏi qua hàng cây, chiếu yếu ớt vào khu vườn hoang tuyệt đẹp. Đó là nơi Trịnh đưa tôi đến, không phải phố xa, đường dài, biển khơi, mà là khu vườn xưa cũ kĩ.

Trong khu vườn ấy, đóa quỳnh e ấp hương, đợi đêm đến lặng lẽ kể chuyện. Trong khu vườn ấy, đóa hồng nhung vội vã tìm tình trong nắng, còn dạ lan cất tiếng ngại ngùng. Trong khu vườn ấy còn có đóa tường vi bị lãng quên giữa muôn loài hoa trắng hồng. Lá non vẫn lên xanh miên man. Dưới tán lá, con sâu nằm ngủ trong quên lãng. Ở ao nhỏ, con cá bống đớp động cây bèo. Với tôi, khu vườn vô hình ấy luôn đẹp, luôn sống động, và trên hết là nó luôn ở đó. Tôi đi lâu, đi xa, đi dài, đi mãi, nhìn lại vẫn khu vườn thấy nằm đó, chờ mình hơn người tình thủy chung. Lúc vui, lúc buồn, mở cánh cửa cũ, tôi chạy vào tìm một góc giữa muôn ngàn hoa lá. Nơi trốn ấy an toàn tuyệt đối, hơn hẳn chỗ núp sau cánh cửa ngày nào. Tôi vẫn ngồi thu lu như khi bé, không để đếm đoàn kiến đi qua, mà để dòng nhạc chảy vào trong mình, nước mắt lặng lẽ chảy ra. Và như thế cây cối thêm xanh.

Sự đắm chìm đôi khi bị đánh thức bởi tiếng chim. Có lẽ đó là một con chim nhỏ, cổ xanh, có tiếng hót như con chim khuyên với cái cánh chấp chới đặc biệt. Con chim xanh của những hạnh phúc, hi vọng, và tình yêu. Con chim ấy khi vui ở đậu cành tre, khi đau lại trốn trong trái tim con người. Ngày nào nó còn về lảnh lót, còn hót giữa đời, ngày ấy tôi còn niềm tin vào cuộc sống này. Nhiều khi tôi thấy cô đơn, thấy hụt hẫng, thất vọng về mình, về cuộc đời, thì lại tìm về tiếng chim thiên đường. Nó có thể vực dậy trong tôi mọi ham muốn, ước mơ và hi vọng dù nhỏ nhoi.  Nghe thật buồn cười khi tiếng chim tâm tưởng lại có sức mạnh đến vậy.

Tôi đã từng hồ nghi điều này. Thực sự âm thanh giản đơn bao lấy những ca từ có tính thiền ấy có thể làm cho tâm hồn người ta trong suốt, nhẹ nhàng. Nghe nhạc Trịnh giống như cuộc cách mạng làm mới lại suy nghĩ và đầu óc. Sau một vũng buồn sẽ lại vui và quên như chưa từng buồn. Ngay cả Trịnh khi nghe tiếng chim cũng phải thốt lên ¨Hôm nay tôi nghe tôi cười như đứa bé¨. Suy cho cùng không ai được phép tuyệt vọng. Chỉ gần như tuyệt vọng, người ta đã phải đứng lên, vượt qua vũng lầy, tìm mình trong sự bình yên, ve vuốt của khu vườn nhiều hương thơm, giống như vòng tay mẹ.

Sau này tôi không còn thấy ngạc nhiên khi nghĩ về buổi trưa ngày hôm đó. Tôi dường như hiểu vì sao Hạ Trắng lại có thể dẫn đường cho tôi vào khu vườn ấy. Câu chuyện về bài hát Hạ Trắng được Trịnh Công Sơn kể lại: ông đã viết nó trong một cơn miên man khi bạo bệnh. Trong cơn mê chiều, ông ngửi thấy mùi hương từ bó hoa ai đó mang tới bên giường. Ông đã đi lạc trong khu vườn mộng mơ của hương thơm, của những chập chờn ảo ảnh, của những hư thực lẫn lộn. Dường như cả cuộc đời, Trịnh vẫn lạc trong khu vườn Hạ Trắng ấy để đi tìm tình yêu cứu rỗi thân phận mình trên cây thập giá đời.

Tôi cũng vậy, vẫn đang đi quẩn quanh trong mê cung mà không bao giờ muốn ra.

Hôm nay ngày mất của Trịnh, 13 năm rồi. Đã lâu tôi không còn nghe nhiều nhạc Trịnh nhưng lần nào nghe miên man. Tôi vẫn nghĩ là do Trịnh hồi trẻ giống hệt bố hay do hình ảnh Trịnh khi già giống hệt ông ngoại mà tôi lại thân quen với ông đến vậy. Tôi đang nghe Hát cho người nằm xuống và chỉ muốn nói rằng¨Người tình rồi quên, bạn bè rồi xa¨ nhưng những người đam mê nhạc Trịnh thì vẫn còn mãi.

large_2155