Verona tháng ba hoa nở

Mấy ngày đầu tháng 3, tuyết tan và hoa tuyết (crocus) đã mọc đầy trong vườn. Hoa tuyết khi lạnh chúm chím như giọt nước, chỉ chờ một tia nắng ấm là bung cánh, tạo thành những thảm mong manh trắng, hồng, tím.  Hiếm có loài hoa nào chịu lạnh giỏi và mang mùa xuân về nhanh như hoa tuyết. Nhưng hoa tuyết như cỏ dại, nằm  yên dưới gót giầy, không có được cái rực rỡ chói lòa như mimosa hoặc forsythia – mimosa de paris. Mấy loài hoa này mà rộ lên thì người ta chẳng cần đợi cánh én, để hiểu xuân về.

Hồi tôi đi Verona cũng vào đầu tháng 3. Con cưng của vùng Veneto vẫn còn lạnh lẽo nhưng không âm u. Veneto nổi tiếng là vùng giàu có, trù phú, với những ruộng nho ngút ngàn và loại rượu vang nổi tiếng. Tới Veneto có nhiều điều để ngắm, để mê, không chỉ mình Verona. Ví như từ Verona đi 2h tàu là tới Venice nên không quá xa biển, đi 2h tàu khác lại tới Trento sừng sững núi, thế nên nhiều người thích tới nơi đây, vừa tiện lên rừng xuống biển, vừa tận hưởng sự lãng mạn của Shakespeare. Tôi thấy nó cũng có chút lãng mạn, nhưng không phải từ ngôi nhà của nàng Giulietta mà từ bức tường hoa forsythia vàng rực rỡ. Loài hoa này mọc bám, rủ xuống bên bức tường thành cũ kĩ, vàng tới hoa cả mắt, tới chói chang, làm tôi đã tự cho rằng đó chính là màu sắc của cả thành phố này.

SONY DSC

Khi nghĩ về một vùng đất, tôi thường tìm một màu sắc đặc trưng cho nó, để dễ cảm quan. Nếu Istanbul có màu đen trắng của Orhan Pamuk, Venice có màu xanh lục bảo của nước biển tràn vào những dòng kênh, Amsterdam dĩ nhiên là màu da cam như họ vẫn cố tô vẽ, Paris có màu vàng óng ả của thời gian, Torino có màu xám của đá lát đường, Rome có màu nâu đất của đấu trường la mã và những tàn tích xót lại thì Verona hồi xưa mang trong mình màu tím. Ngày mà còn đọc truyện của chị Ngô Thị Giáng Uyên, tôi đã nghĩ chắc chắn Verona là màu tím mộng mơ. Chẳng biết điều gì đã làm tôi tưởng tượng vậy, có lẽ do chị ấy đã tả nó thật mơ màng. Khi tới Verona tôi còn cấp tốc mua cái váy tím để cho hòa vào khung cảnh, thế nhưng tới rồi lại nghĩ: Verona đích thực là một màu vàng rực rỡ.

SONY DSC

Tôi đến Verona chỉ vì cần một chỗ ngủ cho hành trình Venice, ai ngờ người bạn ở Verona lại dễ thương và tươi rói như hoa. Hai chị em quen nhau từ hồi ở Hà Nội do định cùng lập nhóm GRE với giấc mộng Mỹ, nhưng lại kết thúc công cuộc học hành ở Châu Âu với cùng loại học bổng. Năm thứ 2, trời nhét cả hai đứa cùng giỏ nước Ý, chị ở Verona, tôi ở Torino, thế nên việc gặp gỡ là không thể tránh khỏi. Chị hơn tôi vài tuổi nhưng nhí nhảnh hơn vài phần. Chị đáng yêu không thể tả với dáng người tròn tròn, nhanh nhẹn, kiểu cười sảng khoái, giọng lanh lảnh, và nói tiếng Anh như dân Mỹ. Sau này ở Ý một năm thì chị còn tham gia giàn nhạc nhà thờ, hát như một bà đầm Ý.  Sáng sáng chị đội mũ bảo hiểm, đạp xe lên dốc tới labo, tối về lại hoạt náo với tụi KTX, chả bao giờ yên tay yên chân. Chị thuộc loại háu đi chơi và chịu tiếp bạn. Nghe tôi tới, chị bảo ¨Giờ sao? Muốn ăn gì chị làm? Cháo gà, cá kho quê hương hay pizza tự chế¨. ¨Em ăn gì chả được¨ mới lần đầu tới chơi nhà nên khách sáo. Tối hôm sau tới, thấy có đủ cả 3 thứ. Chị vừa chăm, vừa chiều, vừa khéo, lại còn lười chọn lựa nên tôi hưởng hết.

Chị nói ¨Verona nhỏ bé lắm, không có gì nhiều, nhưng hồ Garda gần đây thì nhất định phải đi¨. Thế là hai chị em thay vì gặp nhau tại nhà chị, lại hẹn ở hồ Garda. Cái hồ rộng lớn nhất nước Ý ấy quả là không thể không tới. Có bao nhiêu người nước ngoài khi nghe về hồ ở Ý chỉ nghĩ tới Como? Hầu hết, bởi ở đó nổi tiếng với các biệt thự sao Holywood như Geogre Clooney điển trai. Thế nhưng về vẻ đẹp và sự rộng lớn thì Como phải chịu thua trước Garda. Garda rộng và dài trải qua nhiều thành phố, mới nhìn qua còn ngỡ là biển mênh mông. Garda yên bình, dung dị, có vẻ Thụy Sĩ nhiều hơn Ý.


SONY DSC SONY DSC
SONY DSC SONY DSC

Tôi tới một vùng nhỏ của Garda gọi là Sirmione – đó mẩu đất duy nhất lồi ra giữa hồ. Nói là mẩu đất nhỏ thôi mà cũng thấy bự lắm rồi. Sirmione được tạo dựng lên từ thời kì đồ đá, vốn chỉ là một làng chài nhỏ, nhưng sau này khi được nhận thức là vị trí chiến lược thì ở đây được xây dựng các lâu đài, thành lũy. Lâu đài Scaliger xây từ đá bây giờ vẫn  vững vàng bên mép nước, chỉ không còn nhiệm vụ phòng thủ cho Verona như ngày xưa. Sự hùng vĩ của lâu đài và mênh mang của hồ mang lại cảm giác của quá khứ, của những bá tước, hầu tước, váy áo, ngựa xe. Ngày tháng 3 ấy, tôi chẳng gặp ai ở Sirmione bên ngoài thành. Chỉ có 2 chị em và hồ nước tưởng như bất tận. Nước trong xanh, vỗ ì ạch vào bờ sỏi, đẩy đưa mấy con vịt cổ xanh, chỉ vì thiếu gió và sóng, nên người ta mới biết đó là hồ.


SONY DSCSONY DSC

Ai tới Verona đòi chị dẫn đi Venice, chị cũng từ chối vì ngán quá rồi, nhưng lại tự động rủ rê tới đây. Hè nào cũng chị cũng phải tới Garda vài lần, khi thì đi câu cá, khi đi picnic, khi lại đi tắm nắng. Ai ghé Verona, ghé nhà chị mà không qua Garda thì thật lạ. Ở đó, không chỉ có  hồ, có những vườn olive xanh mượt, mà có cả một thảm hoa forsythia thật rực rỡ. Ở đó, bạn có không chỉ một bầu trời mà tới hai bầu trời riêng chỉ dành cho mình.

Chị mê Garda lắm, nhưng nơi chị sống vẫn phải là Verona. Thành phố sư tử này có vẻ cổ kính mà không nhộn nhạo như Roma, có lẽ nó giản dị như Siena nhưng đông khách hơn chút. Ai cũng muốn tới nhà nàng Giullietta. Ai cũng muốn chạm vào nàng lấy may, để có một tình yêu điên cuồng và mù quáng. Nàng Giullietta có điều gì đó làm tôi thấy phi lý. Chắc là ở kiểu tóc búi như các cô gái quan họ việt nam, hoặc ở cái váy không căng phồng như các quý  cô châu âu trong các bộ phim trung cổ. Có bao nhiêu người đã viết thư, viết lên gạch tường nhà nàng, mà mấy ai tìm được tình yêu sau đó? Bộ phim Thư gửi Juliet quay ở đây đã làm thổn thức bao nhiêu con tim bởi khung cảnh nước Ý tuyệt đẹp, cũng như vẻ đẹp ngọt ngào của Amanda Seyfried. Chắc vì bộ phim mà nhà nàng đông thêm đông, lối vào chật thêm chật. Chúng tôi len mãi mới ra được.


SONY DSCSONY DSCSONY DSC
SONY DSCSONY DSC

Chị dẫn tôi vào những ngõ nhỏ. Những ngôi nhà gạch cam đơn giản, tường tróc ít nhiều, nhìn nghèo khổ rất Ý nhưng ban công lại cầu kì. Chỗ thì ban công họa tiết đa dạng, chỗ lại buông những giàn hoa mùa xuân. Màu cam vàng ấm áp phủ những con đường. Chị dẫn tôi lên khu tường thành hùng vĩ của Verona. Tường thành gạch của castel veccio có những đoạn vắt qua dòng nước rất thơ mộng. Những phố bên sông nằm im lìm. Chúng tôi đi dọc xuống về phía citadel bên kia. Chính trên đường đó tôi phát hiện ra tường hoa Forsythia. Tường hoa rực rỡ trong buổi chiều đang chầm chậm xuống khiến cả thành phố như nhuốm màu vàng. Tường hoa ngẩn ngơ ấy làm tôi đi đâu nhìn thấy hoa cũng nhớ về Verona, về chị. Chị bảo mỗi mùa xuân thấy hoa cũng nhớ chính em đã tìm ra bức tường hoa tuyệt đep ấy. Hoa vàng như cây cầu kỉ niệm mang chúng tôi về với những ngày cũ. Ngày ấy, màu vàng của hoa của trời lan tỏa trong cả không gian. Mặt trời dần xuống. Hoàng hôn phủ rực lên con sông và cả khu bên kia đồi. Giản dị mà huy hoàng, một ngày đang trôi qua mất.

SONY DSC

SONY DSC

SONY DSC

Advertisements

Kí ức và giấc mơ

Oscar vừa đi qua hôm qua và vẫn còn vương đâu đấy.

Tôi xem cũng gần hết những bộ phim được đề cử Boyhood, Birdman, American sniper, The theory of everything, Gone girl, Grand Budapest hotel, Interstellar và The imitation game. Xem phim chùa ở Việt Nam quả là số 1, phim xem nhanh hơn cả rạp bên Pháp. Còn gì sung sướng hơn chứ.

Nói về mùa phim năm nay thì tôi không khoái bằng mùa phim năm ngoái. Dù vẫn có một Boyhood thật và đời như Nebraska, một Instellar đầy cảm quan vũ trụ hơn cả Gravity, một quả bom được tung hê với nhiều diễn viên nổi tiếng của Grand Budapest như American hustle, nhưng bộ phim dựa trên câu chuyện hoàn toàn có thật như The theory of everything hay The imitation game và đương nhiên một phim về người da đen Selma nhưng xịt ngòi hơn hẳn 12 years a slave. Các định dạng phim lọt vào danh sách vẫn thế, bao năm không đổi. Đến cả việc nữ diễn viên chính xuất sắc bắt buộc phải thuộc về người có vấn đề thần kinh với những dằn xé sâu sắc hoặc nam diễn viện chính phải là những nhân vật có thật.

Cày phim Oscar năm nay không mang lại nhiều hứng khởi lắm. The theory of everything vẫn có cảm giác làm chưa tới, không thấy hết cái vĩ đại của thần tượng đời mình Stephen Hawking, hay sự chịu đựng cũng như gằn xé giữa ở và đi của vợ ông Jane. Dĩ nhiên phim không hay bằng Beautiful mind. Có lẽ bởi nỗi đau thể xác của Stephen không  làm người ta kiệt quệ và lấy sự đồng cảm dễ dàng như nỗi đau tinh thần của Alain. Dù sao thì sự hi sinh vì nghệ thuật với các cử động cơ mặt khó khăn vẫn làm cho Eddie trẻ tuổi phần nào xứng đáng với Oscar. Thực lòng thì tôi mong anh già đóng Alan Turing trong The imitation game được hơn.

imitationgame

Alan Turing, con người kì quặc, dị thường, với đầu óc siêu việt và sự thờ ơ với xã hội ấy quả là ám ảnh. Nếu gặp con người như thế ngoài đời thì tôi tin mình sẽ ghét lắm. Chẳng mấy ai chấp nhận dễ dàng người giỏi mà gàn tới vậy. Đáng thương cho một nhân tài, khi có suy nghĩ đi trước nhân loại hàng trăm đó là việc khó, việc khủng nên dành cho máy tính, để đỡ đần những bộ não dù thông minh nhưng vẫn chậm chạp của loài người. Chỉ suy nghĩ tạo ra một cỗ máy đã làm Alan hơn hẳn người khác. Hơn nữa ông còn phá được Enigma và có quyền quyết định ai sống ai chết trong cuộc Thế Chiến. Đó có lẽ là kí ức đẹp nhất trọng cuộc đời toàn nỗi đau của Alan, khi ông bị đối xử không xứng với tầm của mình. Alan là người đã ngoảnh mặt với xã hội trước, để rồi xã hội ruồng bỏ ông. Anh chồng tôi, người thần tượng Alan Turing, đã mất cả ngày bần thần vì sự bất công ấy. Giấc mơ về máy tính của Alan bị chấm dứt chỉ vì xã hội hủ lậu. Một giấc mơ vĩ đại chết trong những suy nghĩ nhỏ nhen. Một giấc mơ khoa học siêu phàm không tồn tại được trong đời sống xã hội tầm thường.

Turing-arrested

Vậy còn giấc mơ về việc tồn tại của chính mình trong xã hội thì sao? Đó là giấc mơ của Birdman. Ông diễn viên già trong Birdman khác Alan Turing ở chỗ, ông thèm khát được gia nhập vào xã hội xung quanh và được họ tôn vinh mình. Cả cuộc đời ông đi tìm cho mình một vị trí. Từ kẻ nổi lên từ những bộ phim bom tấn, cả thế giới biết đến, ông rơi vào lãng quên. Nhà báo nói hắn chỉ từng là người nổi tiếng, không từng là diễn viên. Một lần ông đi máy bay cùng chuyến với Geogre Clooney, máy bay xóc, ông nghĩ ¨Nếu cái máy bay này rơi, ngày mai trên mặt báo họ sẽ chỉ thương tiếc mình Geogre Clooney, mà chẳng ai biết đến mình¨. Thế là ông già dồn hết mình vào canh bài cuối cùng, làm một diễn viên kịch Broadway chân chính. Ông muốn lại một lần được tìm về kí ức hoàng kim.

2_img_inset

Phải nói bộ phim sặc màu sắc điện ảnh với sự lồng ghép phim và đời rất hợp lý. Ông diễn viên già luôn đấu tranh với chính mình, như cô vũ công ba lê trong Black swan.  Chỉ có điều ông ta không rút từ da mình ra những cái lông đen đáng sợ, mà ông ta mọc nguyên đôi cánh rồi bay đi. Những tình huống nhỏ đưa ra rất thông minh như việc vỡ mũi phải đeo gạc như mặt nạ, việc nổi tiếng lại chỉ nhờ việc mặc cái quần xà lòn chạy long rong, hay ánh mắt điên dại của cô con gái cuối bộ phim. Đạo diễn xuất sắc nhất quả không hề về sai tay chủ. Thú thật thì tôi thích bộ phim này nhất dù nó nhiều tính kịch, nhiều thủ pháp, nhiều tính hình tượng, không ngọt ngào, giản dị như Boyhood. 129 phút để diễn tả một giấc mơ đang tan vỡ, cố gắng tạo dựng lại, rồi vẫn vỡ vụn mà thôi.

TRIEU PHU KHU O CHUOT

Con người nhiều khi thèm khát sự vinh quang và nổi tiếng quá mà đánh mất cuộc đời mình. Cô diễn viên trong quyển Triệu phú ổ chuột cũng vậy. Cô ta tôn thờ Marilyn Monroe vì chết khi còn trẻ, còn đẹp, còn nổi tiếng, đó là tất cả những gì người ta sẽ còn nhớ lại. Cô ta cũng tự tử khi còn trẻ, vậy mà khi người ta phát hiện ra cái chết, cô ấy đã thối rữa, dị dạng, gớm giếc. Một bi kịch hay một giấc mơ không bao giờ thành. Phải nói tiểu thuyết Triệu phú ổ chuột phức tạp, nhiều câu chuyện, đa dạng, đau khổ, bi kịch, và ấn độ hơn nhiều so với bộ phim cùng tên mà chỉ để ca ngợi tình yêu là chính. Những câu chuyện nhỏ trong đó làm người ta sợ hãi về đất nước triệu dân, ai cũng nghèo, cũng khổ, cũng mất hết hi vọng và tương lai. Cậu bé Ram Muhamed Thomas luôn mơ về người mẹ trẻ, tóc buông rủ, tay bế đứa bé, rồi bỏ rơi nó nơi nhà thờ. Bất cứ khi nào gặp khó khăn cậu lại mơ giấc mơ ấy, nhưng thay đổi hoàn cảnh đôi chút, khi thì người mẹ trẻ biến thành người khác, khi thì đứa bé biến thành đứa bé khác. Tất cả chỉ thể hiện sự ám ảnh tìm ra nguồn gốc của mình. Giấc mơ tìm ra mình là ai, theo đạo nào (khi mà cái tên của cậu gồm cả Hindu giáo, đạo hồi và thiên chúa), thuộc về nơi đâu, liệu có hạnh phúc… là giấc mơ không tưởng. Bởi tới cuối truyện, dường như cậu có tất cả từ hạnh phúc tới những mảng vụn kí ức đầy đau khổ, nhưng vẫn không có nguồn cội mình. Đây là một cuốn sách hay, nên đọc, dù đôi chỗ có thấy thiếu logic hay thừa thãi, nhưng nó cho ta cảm giác sống động về chuyện chạy đua và giành giật sống của những đứa trẻ Ấn Độ nghèo khó.

Kí ức dù đẹp hay xấu, giấc mơ dù hoàn thành hay không, nó vẫn luôn sống và là một phần trong chúng ta. Không thể chối cãi được.

Định kiến và tài năng

chien_binh_cau_vong_sap_xuat_ban-240412

Tôi có cô bạn ở Việt Nam luôn biết viện trợ đúng lúc. Đợt này thấy con bạn mù văn hóa nên tiếp tế cho 2 cuốn truyện mới, ngoài quyển của Patrick Mondiano đã xong, thì quyển còn lại là Tôi, Charlie và hành trình nước Mỹ. Cơ mà cái hành trình ấy dài quá, gửi ở Việt Nam sang đến Paris còn lưu lạc, anh bạn mang đến cho tôi cuốn khác, chưa từng nghe tên¨Chiến binh cầu vồng¨ và còn nói theo ¨Cuốn này giờ nổi lắm¨. Vậy là tôi được đọc văn học theo trào lưu, một cuốn sách Best seller, cơ mà không phải ở Mỹ hay Việt Nam, mà là Indonesia.

Indonesia từ lâu trong hiểu biết chỉ là 1 quốc đảo, có rồng Komodo, có núi lửa Java, có đạo hồi (hiếm hoi trong các nước ASIAN), còn sót 1 bộ tộc ăn thịt người trong rừng sâu, có bộ tộc sống trên cây và không mặc quần áo, đang là chỗ du lịch mới nổi. Kiến thức nay mở rộng thêm đảo Belitong nhiều thiếc, những dân tộc người khác nhau cùng chung sống: người Hoa, người Sawang, người Mã Lai, đất nước tham nhũng, người dân nghèo, trẻ con vất vả. Đó là những ấn tượng mang lại từ Chiến binh cầu vồng.

Cuốn sách này gọi là sách thì hợp lý mà gọi là truyện thì không lọt tai cho lắm. Nhà văn dựa vào ấu thơ của mình để hư cấu lên cuộc sống của 11 đứa trẻ nhà nghèo trên hòn đảo vốn được mệnh danh là viên ngọc sáng lóa ở Biển Đông. Những đứa trẻ ấy là chuột nhắt chết dần trong kho gạo. Khoáng sản thiếc, titanium và vô số loại nữa làm hòn đảo này giàu mạnh, là miếng mồi ngon của thực dân Hà Lan, sau này là chính quyển Indo. Họ khai thác, làm giàu, sống dư dả, xa hoa, trong thứ goi là Điền trang, mà tụi trẻ con thì coi đó là Thiên đường, để cho cư dân đảo sống vất vương thành những nhân công rẻ mát. Vậy mà những nhân công Mã Lai ấy vẫn là lực lượng trung bình trong xã hội, ngang bằng những người Hoa buôn bán, và cao cấp những người dân chài Sawang. Họ nói chúng tôi nghèo đói trên núi vàng. Nghịch lý không tin được.

Câu chuyện những đứa trẻ đấu tranh để được đi học ấy có cái hay cái không. Sự thật nghèo đói và tinh thần vươn lên khiến người ta muốn đọc, nhưng có cái gì hơi cường điệu. 11 đứa trẻ đến trường, 2 trong số đó là thiên tài nghệ thuật và toán học. Ai mà tin nổi 1 đứa bé đi học lớp 1 mà đạp xe ngày 80km để đi đúng giờ. Nó phải băng qua đầm lầy cá sấu, rừng rậm, thậm chí trời mưa lên là phải bơi trong nguy hiểm ấy. Ai mà tin nổi có đứa bé vùng chài, thiếu sách báo, ti vi lại biết được điệu múa thổ dân châu Mỹ, đã thế còn dàn dựng cho các bạn. Lũ trẻ ấy thiếu sự thơ ngây, chúng quá người lớn, sống bằng châm ngôn, và sự suy nghĩ hơn người. Có thể chúng ta biết quá ít về nền giáo dục Indonesia nên không khỏi ngỡ ngàng khi các em bé lớp 5 ấy đã giải toán logarit và biết hết về quang học Newton. Tôi chịu, không cảm được. Những kì tích như chiếc cúp vô địch học sinh giỏi hay văn nghệ khiến câu chuyện có màu sắc cổ tích. Chuyện không thật, không nhiều tính văn chương, nhiều triết lý, nhiều tính khoa học, và đậm màu sắc điện ảnh.

Chắc chắn hình ảnh những đứa trẻ đoàn kết, tạo nên hội Chiến Binh cầu vồng, cùng nhau thi đấu thắng trường PN (trường chuyên của đảo) sẽ tạo nên những sự vỡ òa trong rạp. Có lẽ vì thế mà tác phẩm này đã lên phim, lên kịch. Nó giống như Slumdog millionaire phiên bản nhỏ và kịch hơn. Người ta ghi: Đây tác phẩm có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất Indonesia. Có thể, bởi nó không nhiều yếu tô văn học, nhưng lại có nhiều sự cổ động “Ai cũng có quyển đi học”. Thông điệp nhân văn, cảm thông khốn khó, tôn vinh những đứa trẻ, đó là những gì tác phẩm để lại. Không hơn. Qúa nhiều điều thần kì để đi đến cái kết thực tế. Tuy nhiên truyện kể này cũng có nhiều tình tiết thật cảm động như khi Lintang cậu bé thần đồng đã thực hiện lời hứa, bảo vệ ông bố mù chữ của mình, như khi thầy Hafan chết gục bên bàn làm việc, cô Mus mừng rỡ khi nhìn thấy đứa bé thứ 10. Những đoạn truyện đó rất đẹp, như cầu vồng vậy.

Tôi nghĩ tôi không thích Chiến binh cầu vồng bởi tôi có quá nhiều định kiến. Tôi không tin vào sự xuất hiện của những thần đồng hay thiên tài. Tôi không tin những đứa trẻ thiếu thốn có thể làm nên điều thần kì. Có lẽ bởi tôi luôn là đứa trẻ học ở những trường như trường PN, tự coi mình là hơn các bạn bên ngoài. Ngày cấp 2, lớp tôi chia làm 2 nhóm A và B, theo học lực. Những học sinh nhóm A nhìn các bạn nhóm B khinh khỉnh. Thậm chí thầy cô còn tìn tưởng cho chúng tôi đi chấm bài các bạn. Có lần có bạn Chi nhóm B giải được bài toán khó, xứng đáng điểm 9, nhưng chúng tôi một mực không tin, mách thầy là bạn đã copy bài bạn Sơn nhóm A. Bây giờ nghĩ lại tôi tự hỏi ngày đó mình được 10 điểm thì cớ gì phải ghen tị với bạn. Không, đó không phải sự ghen ghét, mà đó là định kiến cho rằng bạn nhóm B thì phải dốt, phải kém, phải không bằng mình đã dẫn đến những hành động cực đoan như thế.

Ngày đó, đội tuyển toán thành phố có 10 người thì 9 đứa trường tôi, 1 trường ngoài. Như thường lệ, tụi tôi chả coi bạn đó ra gì. Chơi với nhau, học với nhau, từ từ tách đứa lẻ bầy ra, bởi nghĩ trường mình mới là giỏi nhất. Tôi đã có những ngày tháng tự coi nhóm mình là nhát lớp, và lớp mình là nhất trường, nên ít biết các bạn đồng khóa. Sau này khi họp lại lớp cấp 2, cả lũ nghĩ: chắc tụi mình phải về xin lỗi các bạn bởi sự tự cách ly của mình. Tôi nghĩ tôi đã đánh rớt tuổi dậy thì của mình bởi sự ngô nghê, ngốc ngếch như vậy.

Hồi em tôi cấp 1, ở quê có thằng nhóc cũng bằng tuổi. Nó tên Dũng, được ông giáo già trong làng khen thần đồng. Ông bảo thằng đó bài nào cũng giải được, nhanh và giỏi lắm. Gặp ai ông cũng khoe nó. Tụi tôi là học sinh thành phố nghe chuyện đó thì không tin gì. Một phần vì tôi nghĩ em trai tôi phải hơn đứt thằng nhóc ở quê. Một phần tôi nghĩ sách vở thiếu thốn, sách nâng cao không có thì sao biết giỏi cỡ nào. Tôi tự phủ nhận tài năng của 1 thằng nhóc không quen trong trí não mình. Sau này tôi nghe kể, nó học cũng khá lắm nhưng bố nó uống rượu bị ngã chết, nó phải bỏ học đi làm nuôi gia đình. Giờ có lẽ đi làm ruộng hay đi lái ô tô gì đó. Một tài năng đã chết lụi, y như cậu bé Lintang trong truyện. Tôi chưa từng công nhận chuyện thằng Dũng thần đồng, nhưng tôi đã ngậm ngùi cho việc phải bỏ học của nó. Trẻ em phải có quyền đi học.

Ngày tôi lên cấp 3, tôi ra Hà Nội. Ở đó các bạn HN thường coi bọn tôi là dân tỉnh. Dân tỉnh thì sao bằng dân thủ đô. Lớp tôi tạp bí lù đủ thứ tỉnh thành nhưng Hà Nội vẫn là nhiều nhất. Trong đó nhiều bạn nhìn dân tỉnh rất miệt thị, nhất là những giờ tiếng anh hay toán. Lớp 10 tôi học lớp A2, các bạn A1 tinh vi chả để tâm. Lớp 11 tôi lên A1 mất công để hòa nhập được vào cộng đồng ấy. Đợt tôi đi thi đội tuyển, đại loại bố bắt đi, cả phòng thi mỗi tôi con gái. Tôi biết có mấy bạn bĩu môi. Cơ mà cũng đúng vì tôi rớt cái oạch, có điều đội tuyển kia cũng toàn dân tỉnh. Tôi lần đầu chấp nhận hình ảnh nhóm B.  Cú ngã ngựa này đã làm thay đổi nhân sinh quan trong tôi rất nhiều. Tôi cảm thấy thoải mái hơn với việc nhìn nhận và chấp nhận tài năng của người khác, cũng như dễ dàng hơn trong việc chấp nhận sự thất bại của mình.  Từ sau đó thì tôi dễ dàng làm bạn và dễ thương hơn :D.

Người ta nói để làm nên một người tài năng cần có 2 người (bố và mẹ, chắc chắn rồi), đó là người ta tài năng và người nhìn nhận ra tài năng. Vậy đấy, chúng ta không phải ai cũng có tài năng nhưng không khó gì để tân trạng cho mình một đầu óc mở đón nhận tài năng.

Nhìn về quá khứ

Mấy hôm nay, sau bữa tối, tôi thường không đụng tới máy tính. Tôi bận tối mắt tối mũi với ¨Phố  những cửa hiệu u tối¨  và ¨Người đọc¨. Nếu ai chưa đọc thì nên đọc, mỗi truyện có một kiểu thú vị riêng nhưng đều có chung cái nhìn về quá khứ. Ông già Hutte cuối cùng cũng phải công nhận¨Guy ạ, cậu nói đúng, quá khứ mới là cái quan trọng cần nhìn về, còn quan trọng hơn tương lai nữa¨.

1417538650-10689975_10152903628449085_5349092916932917606_n

¨Phố những cửa hiệu u tối¨ của Patrick Modiano được giải Concourt của Pháp từ năm 1976, nhưng tới khi ông được Nobel văn học 2014 thì người ta lại mới đào mộ dậy. Người Việt Nam rất thích ứng, 2 cuốn sách của Patrick đã nhanh chóng được dịch và xuất bản bởi Nhã Nam, đó là ¨Ở quán cafe của tuổi trẻ lạc lối¨ và cuốn trên. Chỉ nghe cái tên thôi người ta đã thấy chơi vơi, lạc lõng và u mê lạ. Patrick Modiano đúng là thế, văn chương ông sao mà buồn và chậm. Những câu chữ, những lời đối thoại, cách đi, cách nghĩ đều từ từ, đến sốt ruột. Nếu bạn mất trí nhớ, đang đi tìm lại quá khứ của mình, liệu bạn có đợi đến 15 năm, khi mà ông chủ bạn về hưu và công việc thường ngày đã ngừng lại. Chắc là không, ai mà có thể kiên nhẫn lâu như Guy, trừ khi người ta quá tận hưởng với cuộc sống hiện tại. Không hề, anh chàng Guy không hề đam mê thứ anh ta đang sống, anh ta tự thấy mình chỉ như cái bóng vật vờ, vật vờ, vật vờ.

15 năm để đi tìm tên thật của mình. Anh chàng lúc này khá vội vã, lao đi tới bất kì nơi đâu manh mối dẫn, vậy mà đến khi tìm thấy những con người cũ, anh ta lại hết sức thờ ơ, hỏi những câu bên lề mà không vồn vã muốn biết xem, mình là ai, mình làm gì, mình đã sống ra sao. Anh chàng ấy có cách nghĩ thật khác chúng ta. Anh ta lần theo sợi chỉ trong bóng tối, đi từ nơi này qua nơi khác, luôn để cho những con người cũ thấy anh ta vẫn tự chủ, vẫn hiểu mình là ai, dù thực ra anh ta chẳng biết mình là ai hết. Hành trình về với quá khứ đau xót, mệt mỏi, đưa cho Guy nhiều ảo tưởng, nhiều nhầm lẫn, ngộ nhận. Khi thì anh ta mường tượng thấy mình là gã quý tộc, dạo chơi trong vườn, có người ông đáng kính, khi thì anh ta nghĩ mình là gã Nam Mỹ luôn lấm lét trong cuộc sống bạo loạn Paris bấy giờ. Kì lạ là mỗi khi phát hiện được manh mối, tim anh ta không đập liên hồi, không hét lên sung sướng, không vui vẻ không đau đớn, anh ta bình thản. Patrick Modiano chắc cũng vậy. Ông từng mất đi người thân, luôn luẩn quẩn trong nỗi đau ấy, âm thầm gặm nhấm, không bột phát mà từ từ để nó ngấm vào văn chương mình.

Tôi không biết mình có thích Patrick không nữa. Nó có sự u mê, chậm rãi của Murakami, kì kì của Italo Calvino, có sự đơn giản không lên gân cốt của Alice Munro. Nói chung đọc không khó nhưng khó mà đồng cảm.

The_Reader_cover

Trong khi đồng cảm sẽ dễ dàng có được với Người đọc. Tác phẩm văn chương Đức này lên phim từ lâu rồi. Bộ phim rất hay, cơ mà đương nhiên truyện hay hơn. Phim làm người ta thích Kate Winslet, truyện làm người ta hiểu hơn cậu chàng 15 tuổi dám lái máy bay tên Michel Berg ấy. Cả cuộc đời cậu ta thật buồn khổ khi không thể tách mình ra khỏi quá khứ, khỏi một Hanna mà hiện lên với muôn nghìn hình ảnh: mặc quần tất sexy, cầm khăn bông tắm, đứng trước bếp, cười trước thư viện của ông ba, bấm gim vé tàu… Cậu ta hay tự hỏi, tôi chẳng nhớ rõ cô ấy, nhưng cứ hết vài trang lại nói ¨Đó là hình ảnh Hanna mà tôi nhớ¨. Có quá nhiều hình ảnh để ám ảnh một cậu bé.

oscars-actress-the-reader-sl

Qúa khứ ấy, cậu bé  cố gắng để chôn vùi, khi mà chẳng hãnh diễn gì khi kể năm 16 tôi cặp bà 36. Mặc dù cậu rất yêu Hanna, thậm chí vô cùng day dứt áy náy khi Hanna ra đi không lời từ biệt, cậu lo sợ là do sự phản bội của mình, dù chỉ trong tâm tưởng. Cậu đã bị thôi miên mãi trong kí ức về người phụ nữ đầu đời, cho tới khi gặp lại cô ấy. Khi gặp lại Hanna trong phiên tòa, cậu nhận ra cái gáy, tóc, đôi tay, dáng hình, nhưng lại thốt lên ¨Kí ức chỉ là sự nhận thức, mình không còn cảm giác gì cả¨. Vẫn người đàn bà ấy, người cậu thầm nhớ mong, thầm ăn năn, thầm mong gặp lại, nhưng giờ chẳng còn cảm giác yêu thương, tệ hơn là cậu chỉ mong người đó biến khỏi đời mình mãi mãi. Lúc này tôi nghĩ, ai cũng bảo các chàng trai khó quên mỗi tình đầu, cái đó đúng, nhưng việc nhớ về mối tình đầu ở đây có khi chỉ là sự nhận thức. Chỉ là thấy điều gì đó thân quen thì nhớ lại, chắc gì còn tình cảm vấn vương trong đó.  Bạn thấy người yêu cũ, hơi ngập ngừng, tự nhiên nhớ ngày xưa, đừng ngộ nhận mình còn tình cảm. Tình cảm khó mà lưu giữ cùng thời gian.

Cuốn sách của Bernhard Schlink có rất nhiều ngữ nghĩa, đưa lại nhiều suy tư đa chiều, rất hay, rất thật. Cậu bé ngành luật lại luôn làm những việc giằn vặt lương tâm, chối bỏ quá khứ không chỉ một mà hai lần. Người phụ nữ làm việc cho Phát xít luôn sống thật với mình, đến ra tòa vẫn không cố để bảo vệ những việc mình đã làm trong quá khứ. Cuốn sách bọc quá khứ đau đớn của nhân loại trong nhiều hình ảnh đáng thương, đáng yêu  như khi Hanna nổi khùng đánh cậu bé vì tưởng cậu bỏ trốn, hay một Hanna già cỗi, cặm cụi ngồi nghe cassette, tay mò mẫm để nhận mặt con chữ trên sách, nghe không được thì tua lại, tua tới hỏng băng. Chắc bà ấy đã phải giận dữ lắm, có khi đã đập phá cả cái đài.Và đáng yêu nhất chắc là khi cassette được đưa đến, bà thường hỏi ¨Có thư cho tôi không?¨. Bà ấy quá mong mỏi những nét chữ quá khứ. Có lẽ Hanna chết đi cũng không phải do bà quá sợ hãi tương lai ngoài nhà tù, mà vì bà thấy mình chẳng còn ai trong quá khứ để đi cùng mình ở tương lai.

Dù có cái kết đầy nước mắt, sách của Bernhard vẫn thấy đầy tình người đẹp đẽ, nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều triết lý hay, đọc cảm thấy thoải mái dễ chịu hơn hẳn Patrick. Những người đàn ông nhiều quá khứ ấy, thật khó sống với hiện tại này.

Qúa khứ nghe có cảm giác thật tiêu cực, như thể có điều gì đó xấu đã xảy ra. Nếu là điều tốt đẹp họ sẽ nói thời vàng son, hoặc đơn giản như tôi gọi đó là thời ngày xưa. Cách đây mấy tháng xem phim Reply 1994, tôi đã hụt hẫng biết bao, khi nhớ và thèm khát quay lại thời ngày xưa. Thời ấy chẳng có gì nổi trội, nhưng chỉ là tự nhiên nhớ và muốn lại tưng bừng một lần nữa. Thời mà chúng tôi có 8 đứa ăn chơi nhảy múa cùng nhau. 8 đứa con gái quyết không chơi với lũ con trai, thích ở nhà xem Hoàn châu cách cách, thích đi học thêm rồi kì kèo thầy cho xem tập cuối bộ phim Xúc cảm, hay ra chơi là chạy đi ăn mì tôm bò khô. Lúc chia tay các bạn lên lớp 10, các bạn tặng cho cái áo chiết eo màu xanh lá cây. Đó là cái áo eo thứ 2 trong đời, bởi hôm trước đi chợ với mẹ đã mua cái y chang màu hồng. Qúa trình trở thành nữ sinh cấp 3 đã hình thành khi mặc 2 cái áo xanh hồng ấy.

Cấp 3 là thời kì chán ngắt, bạn bè lao vào học hành, thầy cô áp đặt. Lũ bạn chơi cùng cũng chỉ biết trao nhau mấy cái đĩa CD hay mấy quyển tiểu thuyết cũ. Có lẽ đánh dấu sự lớn lên khỏi cấp 3 là đã dám đọc dù vừa đọc vừa bỏ trang ¨Cát bụi thời gian¨ để thấy một cuộc sống thật trần tục bên ngoài. Đại học luôn là thời kì đẹp đẽ nhất. Bạn bè vui chơi, đi xa, đi gần, nhớ thương, yêu đương nhăng nhít. Mỗi lần nghe bài Dòng thời gian, anh chồng và thằng em lại chững lại, thật là nhớ ¨Một thời yêu đương sớm tối¨. Tôi thì ít cái để nhớ, mà có nhớ thì vẫn hiểu đó chỉ là sự nhận thức quá khứ mà thôi. Thời ngày xưa ấy, nó đã đi qua, còn trí nhớ để nhớ về là tốt rồi, còn sống với nó thì không nên, không nên.