Xứ Basque – biển, đồi, và pintxo (P2)

Sáng ngày đi Zumaia trời mưa âm ỉ, đi biển vào ngày mưa thật khiến người ta dễ nản lòng. Tàu dập dềnh qua những ngôi nhà xám khói trong ngày trời đất xám xịt. Cảm giác như mình đang sống trong một thế giới xám bồng bềnh, không cứng nhắc mà mong manh. Zumaia quả thực là một cái làng chân chất. Làng chẳng có gì đặc biệt, ngoài vài ngôi nhà cổ xung quanh nhà thờ chính, còn lại toàn là nhà cao tầng mới xây dựng cách đây chừng vài chục năm, hổ lốn và xấu xí. Hàng quán ở đây cũng không có nhiều, mà đặc biệt cửa hàng cứ 1h chiều là đóng cửa nghỉ trưa, thích thì 3h mở lại, có nhiều hàng tận 5h. Không hiểu dân xứ này họ sống thế nào với kiểu làm ăn lười nhác và hưởng thụ như thế. Cửa hàng thì đóng mà tiệm cafe thì luôn đông. Không có những cửa hàng bán đồ lưu niệm hay những tiệm ăn hào nhoáng. Ngôi làng này thật sự khác xa Donostia, phải cách tới 40 năm phát triển (hoặc hơn thế) trong khi về mặt địa lý cách có 40ph đi tàu. Tôi đã kì vọng nó nhỏ xinh, đáng yêu như một ngôi làng chài ở Cinque Terre nhưng hóa ra nó chẳng được phố thị nhưng cũng không giản dị đáng yêu mà đơn sơ, thơ lơ, tội nghiệp.

 IMGP0113

Zumaia không phải là không có tiếng, bởi cùng với 2 ngôi làng nữa, chúng cùng chia nhau đường bờ biển kì vĩ – một kì quan thiên nhiên thế giới. Ở đây, dọc bờ biển đá tạo dựng một hình thái khác lạ, gọi là Flysch. Núi tạo từ những lớp đá mảnh chứ không phải từ những khối đá. Nếu cắt dọc, nhìn như ruộng bậc thang, tầng tầng lớp lớp với màu sắc biến chuyển từ xám, xám đậm tới nâu, nâu tối. Nếu nhìn lát cắt dọc thì lại có cảm giác như hàng ngàn bánh răng cưa chập vào nhau của một động cơ phức tạp lắm. Các bánh răng đang chạy cọt kẹt, đồng bộ, để cho một cỗ xe thời gian tiến lên. Và cỗ xe thời gian ấy có lẽ đã chạy được hơn 100 triệu năm rồi. So với những dãy núi ấy, con người thật bé nhỏ cả về hình hài và đời sống. Sự già cỗi của núi đang được phô diễn ra bởi nước biển. Nước biển lấn vào ngày một nhiều, biến những ngọn núi to cao ấy thành  những mạch đá dài chạy dọc bờ biển. Những mạch dài chạy từ chân núi, băng qua cát, chìm vào lòng nước, giống như rễ của cây si đang len lỏi. Với bờ biển dài 8km chạy những mạch đá này, xứ Basque tạo cho mình một nét bí ẩn thiên nhiên mà chẳng nơi nào cũng có được.

Khi tôi tới bờ biển thì trời cũng vừa tạnh. Gió thổi mạnh mẽ vào các mạch đá. Sóng to, nhảy cuộn lên, tung bọt trắng xóa, òa vào giữa những kẽ đá dọc bờ, giống như bong bóng xà phòng vậy. Trời biển lúc này như được cấu thành từ hàng triệu hạt nước nhỏ li ti xám trắng. Cuộc sống như bay ngược lại thời nguyên thủy, khi các sự sống còn hình thành trong lòng nước từ các vi tảo. Tất cả đều bơi trong biển nước hài hòa. Thế rồi cuộc sống di dần lên bờ và cây cối thi nhau mọc. Trên đầu các ngọn núi lúc này là những thảm cỏ xanh. Mưa xuân đang mang màu sắc mới cho vùng đất. Nhà thờ nhỏ nàm trên cao, gió ùa vào, không chỉ lạnh lẽo mà con như muốn đánh bật người ta xuống khơi. Ngọn hải đăng ở xa, đã bị che lấp dễ dàng bởi hơi nước ẩm ướt. Chẳng thấy có du khách nào ở Zumaia, đến con người cũng vậy, họ như trốn hết trong các quán cafe.

IMGP0142 IMGP0212 IMGP0227

Zumaia

Trên cái brochure về ngôi làng này, họ kể về những chuyến đi thăm bãi biển đá, những chuyến theo tàu ra xa và cả những con cá nguyên con nướng trên than hồng. Vì cái hình ảnh bắt mắt của con cá nằm trong rọ sắt trên than ấm nóng quá ngon mắt ấy mà 2 đứa quyết tìm được nơi để thưởng thức, và điều đó dẫn tới ngôi làng Getaria bé nhỏ, có thể đi bus 40 phút từ San Sebastian Donostia hoặc chỉ 10-15 từ Zumaia. Nhưng trong cái hôm trời gió lạnh thất thểu ấy thì cả hai chẳng làm gì được ngoài việc trở về mái nhà AirBnB, đợi tạnh mưa để tiếp tục khám phá ẩm thực Donostia. Phải nói đêm đó hên vô cùng khi tìm được một quán rất hay ho tên là La Cepa.

Quán ấm áp, đèn vàng, các bàn ăn có trang trí các loại hạt khô, quầy bar vô số pintxo đặc sắc, cùng hàng chục cái đùi jabugo lủng lẳng. Tiếp viên quán vô cùng dễ thương, cứ lăng xăng giúp đỡ dù không nói tiếng anh. Vì bị dặn đi dặn lại phải ăn đặc sản xứ này là con mực nấu trong mực của nó (Chipirion tinta) nên 2 bạn quyết phải ăn cho được. Mà món đó ngon thật, mực thớ dai, sợi như thịt gà, nằm trong hỗn hợp mực đen ngòn ngọt ăn cùng cơm, thật là mê ly. Chồng làm thêm ly txakoli ấm áp thì lại càng mê mẩn món này. Tất nhiên, pintxo là một phần không thể thiếu. Pintxo que ớt ngấm chua cay với olive ra râu bạch tuộc gây ấn tượng đáng nhớ bên cạnh các loại trét bánh mì khác. Thêm đĩa thịt jabugo được làm nóng trong suốt, ăn ngọt dai lại càng làm cho ấn tượng về đồ khô xứ Basque thêm tốt đẹp. Kết thúc buổi tối bằng cái kem vị sữa chua từ quán Venezia thì thật hoàn hảo, kệ cả việc trời vẫn mưa tới tấp. À nó hoàn hảo một phần vì những bài hát hay của ban Street messages trio gồm 3 cụ già trẻ trung trong khu chợ. Ở dưới các cụ già khác nhảy theo, có 2 cụ bà khoe rằng mình ở Canada sang, đang đi du lịch 3 tháng châu âu. Họ thật trẻ trung sôi động, khiến người khác phải ghen tị.

Vì cái sự ăn chơi của các cụ mà sáng hôm sau tỉnh dậy, vợ chồng quyết phải tìm cho ra Getaria. Sáng nay trời nắng đẹp. Bãi biển của Donostia thể hiện nguyên sự quyến rũ của nó, khiến mùa hè du khách phải đổ về ầm ầm: bãi cát dài, sóng lớn, mềm mãi một bên thành phố. Buổi sáng Donostia ấy làm tâm hồn ai cũng trở nên vui vẻ, sống động, có lẽ chỉ bởi chút nắng trên mặt biển xanh lá. Thêm vào đó là cái đẹp nhỏ xinh của những ngôi nhà, thành cổ và mùi cá tươi tao từ những thuyền mới về từ đêm ở Getaria làm người ta thêm hứng khởi. Những thuyền lớn, nhiều đèn, các thủy thủ da đen đang thả neo, mang lên những thùng cá con xanh tươi. Trên bờ người đàn bà già ngồi khâu lại tấm lưới. Hải âu bay rợp trời đợi cá thừa. Thuyền chen chúc trong hải cảng nhỏ. Những ô tô tìm tới mua con cá tươi trong ngày.  Mùi biển, mùi cá, mùi cuộc sống làng chài làm tôi thích thú còn chồng thì nhớ quê. Có lẽ ai cũng mê biển.

IMGP0352 SIMGP0354

San Sebastian Donostia

IMGP0406 IMGP0400 IMGP0396 IMGP0354

Getaria

Quán ăn được recommend bởi Michellin ngay cạnh nhà thờ có tên Iribar đã đốt than hồng rực trước cửa. Trên bếp than là mấy cái rọ sắt để cho cá mực vào. Nó làm tôi nhớ lũ sardine nướng than ở Porto đã làm tôi và Giang điên đảo thế nào. Trời có vẻ muốn mưa lại. Bếp than hồng vẫn cháy rừng rực, thơm thơm, ấm nóng. Như đêm đông, bạn vớ được hàng ngô nướng trước ngõ thì khó mà không sà vào. Hai đứa vào ngay, quyết chí một phen hết tiền cho hải sản. Mấy con mực con (Chipirion) nướng thơm rưới olive của tôi tươi rói, ngọt lịm ăn đứt món bạch tuộc (pulpa) nướng sốt paprika mật ong của anh chồng háu đói. Anh háu đói đến mức ăn xong món bạch tuộc thì vẫn chưa đã cơn khát biển cả, phải gọi một con cá Monkfish xấu xí, mắt lồi, da xù xì, ngang bè như quái vật, nặng cả cân, nướng mọi. Con cá nhìn xấu mà thịt trắng tinh, dòn dai, với cái da cũng dai dòn, ăn ngon nhưng thiếu vị ngầy ngậy như thứ cá sardine rẻ tiền có thể mang lại. Hai đứa ăn no ễnh bụng vẫn phải cố nhét thêm ít kem tươi mềm mại làm từ sữa cừu rưới sốt rượu txakoli đặc sản. Qủa là đắt xắt ra miếng ngon.

  IMGP0428IMGP0423  IMGP0422IMGP0434

Phi bus tới một làng chài, chỉ để ngửi mùi cá tanh, ăn thịt cá tươi, sống không khí làng chài, thế thôi. Thế là đủ thấy một ngày thật đẹp, cho dù tối đó thất vọng tràn trề mấy món pintxo độc đáo của quán Zukero nổi tiếng (nổi vì tạo hình pintxo khác lạ đẹp mắt và đắt tiền). Một cô gái xinh đẹp khi bỏ son phấn tự nhiên làm người ta chán ngán. Quán đó đồ ăn dở và cung cách phục vụ cũng vậy. Món pintxo thì thua xa thứ pintxo rẻ tiền ở Biarritz mà chúng tôi ghé vào ngày hôm sau. Quán bar vui nhộn ấy bán pintxo giá chỉ 1 -2e, mà có đủ loại tư cá hồi xông khói, thịt jabugo, tới mấy cốc súp nhỏ bí ngô. Thật kì lạ vì Pháp luôn đắt đỏ hơn TBN vậy mà riêng cái món nhậu này lại rẻ hơn (nhưng cũng kém phong phú hơn chút). Món mực nướng (Chipirion a la plancha) cũng rẻ rề, 1 đĩa chỉ 7e mà thơm tới tận góc phố. Biarritz còn cho tôi thưởng thức thêm món bò nướng nổi tiếng, bên ngoài nướng cháy, bên trong mềm mại của những nhà hàng luôn đông khách.

IMGP0446

IMGP0451 IMGP0450 IMGP0452 MónIMGP0454

Pintxo đẹp mắt ở Zukero

Biarritz còn có nhiều hơn thế nữa. Thành phố rộng lớn này với những đại lộ lớn, chiều chiều ghế tràn ra từ những quán bar. Cuộc sống về đêm ở gần khu Halles và đường Gambetta náo nhiệt. Giới trẻ đứng đông bên ngoài, uống bia rượu và thưởng thức pintxo. Bánh gateau xứ Basque nhân kem, cherry hoặc mơ ngọt ngào. Bờ biển dài nhiều cát, sóng mạnh mẽ, người ta thi nhau lướt vát dưới cái lạnh căm căm. Những điểm ngắm từ trên cao cho người ta cái nhìn rộng ra biển khơi, thấy rõ những khối đá nhấp nhô gần bờ biển. Những khối đá làm tôi nghĩ tới con cá sấu quay đầu, hay con cá voi mắc cạn. Có khi nào về đêm, chúng trỗi dậy, thành quái vật biển khơi, hoặc chúng đợi bài hát của chú Selkie bé nhỏ để thoát xác, trở về cõi thần tiên, như bộ phim hoạt hình tuyệt hay Songs of the sea. Đi qua cây cầu ra mỏm đá ngoài biển, nắng lên rực rỡ như mùa hè, ở đó có thể nhìn rõ từng đoàn người lướt sóng, đang cố bơi ngược ra, hoặc đang cố nhảy đầu những con sóng lớn. Những mỏm đá lớn màu nâu nằm rải rác trên bờ biển Biarritz tạo sự khác lạ cho nó, giống như vùng miền nam của Bồ Đào Nha, còn nếu đá thành màu trắng sẽ hao hao Etretat của Pháp.

IMGP0529 IMGP0525 IMGP0516 IMGP0504

Biarritz

Biarritz thật kì lạ, cứ sáng mưa, càng tối càng nắng mạnh mẽ. Nắng như mùa hè rực cháy, khiến người ta không tin đã từng có những đám mây ngự trị trên trời. Lúc vừa tới chạy xuống biển, gió còn lùa cho xanh mặt mà sau 4h chiều thì áo ấm, mũ len phải cởi hết. Đi thong dong từ bãi cát này sang bãi cát kia, biển lấp lánh óng ánh như vẩy cá bạc. Tới bãi dài nhất thì lóa mắt, bởi xa xa bụi nước tung xóa mờ cả đường chân trời hay giao cách giữa cát và biển. Mắt tự nhiên mông lung không biết là mình đang nhìn thấy gì, trời hay biển. Trên những bãi cát ấy là các công viên đã xanh mướt và hoa vàng rực rỡ. Công viên theo kiểu bậc thang, nhiều tầng nhiều ghế, và trên cùng là khu trung tâm thành phố đầy người, xe và gió lộng.

Xứ Basque thật không làm người ta thất vọng về sự ăn chơi và không khí vui tươi của nó. Dù ở Pháp hay Tây Ban Nha, sự ngự trị của biển, đồi và pintxo vẫn luôn có. Ngôn ngữ không còn quan trọng ở đây, bạn nói tiếng Pháp, TBN hay xứ Basque, hay chẳng nói gì cũng được, chỉ cần sắm cho mình một tinh thần ăn chơi tới bến  và lăn xả hết mình vào nó. Thế thôi.

Xứ Basque – biển, đồi và pintxo (P1)

Khi tôi bảo ¨Tao sắp đi xứ Basque¨, các bạn đều nói ¨Nghe thật lãng mạn quá đấy¨. Công nhận cái tên nghe rất cổ tích nhưng sự thực thì 4 ngày trời an dưỡng ở đó, chúng tôi chỉ quanh quẩn việc ăn và ăn. Đời tôi chưa có chuyến đi chơi nào mà thong dong và an nhàn như thế, rất thích hợp với bà bầu cần dinh dưỡng và đổi gió. Chuyến đi này là bước tiến xa với việc nằm lều ngủ bụi quen thuộc của 2 đứa, anh chồng nói ¨Đây là tour du lịch ẩm thực¨. ¨Đúng rồi, chúng ta ăn vì con¨.

Xứ Basque như người ta vẫn gọi có cái tên riêng là Euskadi, có cờ riêng ba màu: xanh, đỏ, trắng, có ngôn ngữ riêng, có văn hóa riêng, ẩm thực riêng, hệ thống tàu riêng và lúc nào cũng đòi ra ở riêng. Xứ Basque gồm một phần nhỏ miền Tây Nam Pháp và Đông Bắc Tây Ban Nha, thế nhưng nếu tách ra thì có lẽ cũng to hơn nước Thụy Sĩ. Hồi xưa xem tivi về xứ này, thấy những thảo nguyên xanh bạt ngàn, bò cừu thẩn thơ, những đùi thịt khô Jabugo chất lừ, thứ pintxo nhiều màu sắc, phô mai đục lỗ, rượu Txakoli trắng, và gateau Basque nhân kem thì thèm thuồm lắm, chỉ muốn lao tới ngay. Sau này khi ngồi nhà rảnh rỗi, nhìn lại bản đồ xứ Basque biết thêm nơi đây không chỉ có đồng cỏ xanh tươi, còn có bãi biển dài nhiều cát, nước xanh vây quanh từ Biarritz tới Bilbao, người ta phơi nắng, lướt sóng, tắm mình trong hải sản thì cái sự ham chơi lại trỗi dậy. Vậy là phải lên đường khẩn cấp, để tận hưởng chút gió biển Atlantic trước khi sinh em bé. Đến khi tới nơi đây rồi, tận mắt thấy sự ưu đãi của thiên nhiên: đất đai trù phú, nông sản dồi dào, hải sản phong phú, mới thấu hiểu sao mảnh đất tí hin này cứ đòi độc lập khỏi cả Pháp và Tây Ban Nha.

Tháng 4 ở vùng biển Atlantic nổi tiếng nhiều mưa nên cuối tháng 3 khi mà trời còn chưa hết lạnh, hai đứa đã kéo nhau đi. Một tuần trước khi đi, coi lại dự báo thời tiết mới biết, tuần tới mưa nguyên ngày, nhưng tôi với tính lạc quan cố chấp thì vẫn lên đường khí thế với 1 valy đầy váy áo mùa hè cùng kính mát và mũ cói.  Có lẽ bởi vì tôi bị ám ảnh câu chuyện về 1 ngôi làng. Ngôi làng ấy bị hạn hán lâu ngày, dân chúng được yêu cầu mang theo một vật may mắn để lên đồi cùng cầu mưa. Họ cầu 1 lúc thì có mưa thật. Tất cả nhìn nhau và tự nhận chính vật mình mang tới đã mang lại cơn mưa. Họ tranh luận không dứt thì tự nhiên có cô bé con thốt lên ¨Mẹ ơi, mình về đi, con có mang theo dù¨. Người lớn nhìn nhau ngơ ngác, chẳng ai trong số họ có dù trong tay. Đấy, tôi sẽ làm một việc ất ơ như thế. Thật sự thì khi tàu tới Biarritz lúc 3h chiều, trời đã nắng to, rất đẹp, cả hai mừng rỡ vô cùng, dù cho gió biển vẫn thốc qua lớp chiếc áo măng tô xù lông. Chưa tận hưởng được chút nắng nào, 2 đứa đã líu ríu dắt nhau đi bắt bus đến Hendaye, để từ đó bắt metro sang San Sebastian – thiên đường ẩm thực xứ Basque.

Trên mạng nói có 2 cách đi từ Biarritz sang San Sebastian. Một là bắt bus của công ty TBN tên Pesa, sẽ đi thẳng tới nơi luôn, nhưng mà lại không nói bus đó bắt ở đâu. Vào gare SNCF của Biarritz hỏi họ cũng chịu, chẳng biết PESA là gì. Trên vài forum thì nói vu vơ là có thể bắt cạnh Tourist office, thế nhưng từ gare đi vào tới đó cũng mất 15-20 phút, rất phức tạp. Cách thứ 2 là đi tàu từ Biarritz tới Hendaye, giá vé 6e 1 chiều, tôi đã tính đi kiểu này, cơ mà không hiểu sao hôm đó xui tàu bị hủy hết. Trong cái rủi có cái may, bus đi giữa 2 thành phố này 1 tiếng có 1 chuyến, giá chỉ 2e mà đi cũng chỉ mất 40 phút như tàu, có điều tôi đã say khốn say khổ vì đường quá vòng vèo. Con đường đi qua những bầu trời xám xịt, những đồi xanh, cỏ rộng và cừu trắng im lìm. Những con cừu dường như bất động, cả ngày chúng chỉ đứng yên một chỗ, chọn xem ăn nhánh cỏ bên trái hay bên phải. Cuộc sống của tụi nó gói gọn trong việc ăn cỏ và tắm nắng, cho tới khi bị xén lông và đưa lên bàn. Cây cối mùa này khẳng khiu quá, chưa mướt mát dù mưa đã nhiều. Ven đường chỉ có cây mimosa vàng rực rỡ và vài cây táo mận hay mơ đào nở trắng. Chỉ vậy thôi mà tôi đã thấy cái xứ này đẹp quá, nếu là mùa xuân chớm hè, khi trời xanh trong, không mây, hoa lá tưng bừng thì không biết còn mê hoặc tới đâu.

Ở Hendaye, thành phố biên giới 2 nước, chất Pháp vẫn hiện rõ, bên bến cảng những ngôi nhà lộ khung xương gỗ kiểu Timber nhiều màu sắc phơi mình bên tàu thuyền. Cũng ở đây ngôn ngữ xứ Basque đã xuất hiện, không giống tiếng Pháp hay tiếng TBN, mà nhìn như loại chữ của mấy nước Đông Âu. Dân Basque tưởng nghèo mà không phải vậy, họ xây dựng những tuyến metro hiện đại để đi khắp nơi trong vùng. Vùng chia làm nhiều vùng nhỏ, giá vé tới từng vùng nhỏ được cố định cho mọi điểm tới. Ví dụ tôi đi từ Hendaye tới Donostia – San Sebastian, hay từ Donostia tới Zumaia tới Gelata thì giá vẫn vậy 2.35e 1 chiều. Gía vé còn rẻ hơn từ nhà tôi vào Paris dù tàu mới hơn và đi xa hơn. Con tàu đi 40 phút qua rất nhiều thành phố nhỏ. Thành phố ở TBN thật kì lạ, cây cối ít, nhà dân không thấy, toàn nhà chung cư cao thật cao, ít nhất cũng 5-6 tầng, màu vàng nâu hoặc khói đậm, xây chắc tầm 10-20 năm đổ lại. Có những ngôi nhà còn tan hoang, đổ nát, cứ vừa qua một trận chiến tranh. Nhìn cuộc sống ở đây không khiến người ta thấy ủ rũ, buồn chán về sự nghèo khó và cứng nhắc. Sự rực rỡ, vui tươi của cuộc sống ven biển, của xứ Latin,  mặt trời ấm nóng, những điệu Flamengo, sangria, cát vàng, như ở Barcelona dường như không chạm tới được nơi này. Tiêu điều quá, tiêu điều tới buồn chán. Con tàu chạy tít trên cao mặt đường. Bên dưới, người người xám xịt trong mưa.

IMGP0054

Donostia-San Sebastian cũng mưa, cũng xám, nhà cũng cao, vàng, cũng nâu, cũng khói, nhưng kiểu cấu trúc lâu đời. Có những ngôi nhà có âm hưởng Pháp hoa mĩ, có những ngôi nhà lại thật giản đơn mà bề thế. Nhà cao, nối nhà cao, những con đường rộng dài, quy hoạch ngăn nắp, sạch sẽ trồng nhiều hoa anh đào hồng nhạt, mộc lan tím đỏ, hay hoa trà rực rỡ. Tổng quan thành phố cho thấy sự sung túc, giàu có hơn hẳn những hàng xóm xung quanh. Ngày xưa đây chỉ là một làng chài bé nhỏ, nhưng vua và hoàng hậu TBN đã quyết định biến nó thành đô thị văn hóa và ăn chơi. Điều đó giải thích cho sự rực rỡ ánh đèn ban đêm trong thành phố và ngoài bờ biển, sự nhộn nhịp của các quán bar trong phố cổ, những nhà hàng Michellin đắt tiền (ở đây có số lượng nhà hàng Michellin nhiều nhất thế giới) và sự sầm uất những cửa hàng cửa hiệu thời trang gần nhà thờ lớn. Các mặt hàng đa dạng, bởi có nhiều nhãn hiệu riêng, đẹp mắt và xắt ra miếng. Khó tin được vùng đất này thuộc về TBN đang suy thoái, khánh khiệt, tới công chúa còn bị vòng lao tù vì trốn thuế. Xứ Basque quả là khác thường.

IMGP0074 IMGP0078

Đêm đầu ở San Sebastian, trời mưa yếu ớt, con người vẫn đông nườm nượp trong phố cổ dù là ngày trong tuần. Các quán bar từ 7h đã đầy đặc pintxo màu sắc trên quầy. Pintxo, còn gọi là pincho hay tapas, thường được làm từ mẩu bánh mì baguette, bên trên có phủ những thứ thịt nguội hoặc tôm trứng, với nhiều cách làm, trang trí cầu kì công phu. Quán bar nào cũng dày đặc người đứng xung quanh quầy. Họ uống bia, rượu, trò chuyện và ăn pintxo. Rất khó để chọn lựa một quán cho mình, bởi mỗi quán sẽ có mỗi loại riêng, là niềm tự hào của họ. Chúng tôi vào một quán pinxto nhỏ xíu, ngay đầu đường, bởi cái menu tràn ngập chữ, hứa hẹn sẽ có nhiều món phong phú. Bên trong, người đàn ông hiền lành đang chạy xuôi ngược lấy đồ, mấy người đàn bà từ trong bếp mang ra các loại mới. Hội các bác nữ hưu trí đang túm tụm ăn uống, buôn chuyện rôm rả. Quán chỉ có 1 quầy bar dễ tới vài chục loại pintxo và một bức tường có bàn để người ăn có thể đặt đồ. Trong cái không gian chật hẹp đó, tuyệt nhiên không có bàn ghế gì, tất cả đều đứng trong mãn nguyện. Tôi sà vào chọn vài loại pintxo lạnh có thể ăn ngay, còn chồng thì gọi vài loại pinxto cần hâm nóng. Bác bán hàng không biết tiếng anh, nghe bập bõm tiếng pháp, cố làm mọi cách giải thích cho khách. Sau một hồi đánh vật với nhau thì hai bên cũng thấu hiểu. Tôi hí hửng bê ra những đĩa rực rỡ.

Miếng pintxo đầu tiên có một lớp chân nấm nâu, bên trên là sốt maynonaise trộn trứng, rồi phủ bởi lớp cá hồi xông khói hồng hồng. Đúng là cả một nghệ thuật, cá hồi dai, mằm mặn, sốt ngậy, trứng mịn, nấm dai, ngòn ngọt, và bánh mì giòn. Tôi mê tơi. Có món pintxo có thịt khô Jabugo ngọt, dai và mỏng như tờ giấy cũng hấp dẫn, bởi khi làm nóng lên miếng thịt trong suốt thấy cả thớ và đường vân. Món pintxo tôm thì không có bánh mì mà tôm bóc vỏ, xiên vào que, nướng trên bàn nướng, sau đó rắc ít hành phi băm nhỏ, con tôm hồng hồng, ăn sần sật, thơm nức mũi. Món mực chiên còn gọi là Chipirion a la plancha thì nướng nguyên con mực nhỏ, sau đó đặt trong đĩa rưới dầu olive, chưa được lòng bạn chồng lắm, dù nó vẫn thơm lừng hơn món bạch tuộc. Cả cái món cật lợn xiên, chiên lên cũng không phải là món khoái khẩu của cả 2. Mỗi món pintxo ở đấy giá từ 3-4e, mà ăn, ăn nữa, ăn mãi, một hồi quay lại đã mất một đống tiền. Chỉ có rượu txakoli là rẻ, 1,5e 1ly, hàng nào cũng vậy. Tôi uống nước khoáng nên chẳng biết tả mùi vị rượu  này thế nào, chỉ thấy chồng bảo ¨Được¨.

Phố đêm, đèn đường vàng, mưa hiu hắt. Những người già đứng chật quán bar, những quán bar treo chật đùi bò. Lũ trẻ đứng chìa ra ngoài đường, ai cũng bia rượu giòn giã. Nhạc vang lên không nhiều. Các quán kem vẫn còn mở cửa. Các cửa hiệu thì đóng dần. Mưa đã hết, gió thổi té tát từ biển vào. Bãi biển ở San Sebastian thật dài và hẹp. Sóng đánh ầm ầm, dữ dội, thảo nào đây là nơi để người ta lướt sóng. Cát ở đây mịn màng, mềm mại, nhưng không nhiều như ở những bãi Việt Nam. Cát nâu vàng, nước thì không xanh sẫm như Địa Trung Hải mà xanh lá cây nhàn nhạt, khiến anh chồng nghĩ ngay tới biển quê. Đường dọc bờ biển sáng rực, lát đá sạch đẹp, người ta cho chó đi dạo trong buổi tối mát lành sau mưa.

Mưa đeo đuổi từ ngày này qua ngày khác. Sáng hôm sau tỉnh dậy, trời có mưa, nhìn đã chán, chỉ muốn nằm nhà. Vì lừng khừng dậy muộn cộng với việc nhâm nhi bữa sáng bánh ngọt và socola nóng siêu đặc mà hai bạn đã bị lỡ tới 2 chuyến tàu. Bữa trưa phải hoàn thành vội trong quán bar Iruna cạnh nhà ga. Ở đây họ phục vụ pintxo từ 9h sáng. Sáng mà pintxo cũng đa dạng từ thịt cho tới hải sản. Pintxo ở đây rẻ vô cùng, 2.5e 1 suất mà tới 4 miếng bánh mì kèm thịt xông khói jabugo hoặc 1 đĩa 2 lát cá bacalau, trong khi ở nơi khác Pintxo chỉ có nghĩa là 1 miếng bánh mì mà thôi. Có lẽ vì 2 đĩa pintxo ngon lành ấy mà chuyến đi Zumaia ngày hôm đó cũng thấy có chút phấn khích.

IMGP0055

IMGP0089 IMGP0092 IMGP0264 IMGP0265

Tôi có hẹn với Gaudi

Những ngày đầu tháng 10, trời trong veo và nắng Địa Trung Hải ngập tràn Torino, vừa thi xong môn tiếng Ý cấp tốc, được nghỉ 1 tuần trước khi vào năm học, tôi khẩn cấp lên đường đi tới cuộc hẹn. Tôi có hẹn với Gaudi và Alex. Gaudi, tôi từng thích ông ấy điên cuồng, bây giờ cũng vậy. Còn Alex, cậu ấy là bạn thân nhất ở Bỉ của tôi, và bây giờ cũng vậy.

Alex tới ga đón tôi sau hành trình dài hơi. Cậu bạn vô tư của tôi bây giờ râu tóc dài ngoằng, luộm thuộm hết sức. Tôi biết nếu tôi rơi vào hoàn cảnh như cậu ấy tôi sẽ còn trông tệ hại hơn. Cậu ấy vừa để mất học bổng EM, chỉ vì năm đầu tiên cậu ấy không thoát khỏi cái địa ngục UCL, cậu ấy đạt được 47 trình trong khi 48 trình là có thể vượt vũ môn. Cậu ấy đã chết trước cửa thiên đường, tôi biết vậy. Và  tôi tới đây, để gặp, để chào cậu ấy lần cuối.

Chúng tôi chào đón nhau theo đúng kiểu những người bạn lâu ngày gặp gỡ. Không thể để nỗi buồn lan toả làm hỏng chuyến đi chơi cuối , tôi đòi cậu ấy dẫn đi tham quan ngay lập tức.

Barcelona, bờ biển dài và những cô gái nóng bỏng. Chắc hẳn rồi, vậy là dọc theo con đường dài những tượng người nhộn nhịp, chúng tôi tới hải cảng. Tôi đã bị trộm viếng thăm nhưng tóm kịp nên tôi coi đó là điềm của một ngày may mắn cực kì. Hải cảng nhộn nhịp chen chúc tàu bè, người và hải âu. Thật tuyệt khi tới với không khí biển, lúc nào cũng tràn ngập nắng, gió và niềm vui. Những cô gái xinh đẹp rực rỡ, những em bé tóc xoăn dễ thương và những anh chàng Catalyan rám nắng cực kì.

Bên chiếc cầu xoay, những cánh buồm trắng nhấp nhô, những cruise sang trọng đua nhau show hàng, hải âu tung tăng, hoà cùng sự hồ hởi của dân chúng nơi đây, đón chào màn air show trên nền trời hè nắng cao. Đấy tôi đã bảo là tôi sẽ có ngày may mắn cực kì mà. Có lẽ Gaudi cũng phải mỉm cười trước sự may mắn của tôi. Tôi tới Barcelona đúng đợt kỉ niệm 150 năm không quân nên được dịp ồ à cùng màn không lượn tuyệt vời của nhóm máy bay nghệ thuật. Máy bay nhào lộn, vẽ nên những hình ảnh sặc sỡ trên nền trời và thú vị nhất là hình trái tim bị mũi tên xuyên thủng. Phật, xoẹt, tim tôi cũng bị xuyên thủng rồi, Barcelona ơi, tôi yêu quá đỗi. Tôi nằm dài ra cùng lũ trẻ, gậm nhấm cái hamburger của mình, ngắm những hình ảnh vụt qua, mọi thứ xung quanh náo động mà bình yên.

“Này tôi sẽ đưa cậu tới một nơi tuyệt vời, nơi yêu thích nhất của tôi ở Barcelona” Alex hớn hở phá tan sự mơ hồ, có phần hiu hiu ngủ của tôi. Vậy là chúng tôi bật dậy và đi tới công viên tự nhiên bự nhất Barcelona – Parc de la Ciutadella. Tôi có phần hồ nghi, không hiểu ở công viên thì có gì thú vị cơ chứ.

“Nếu mà tôi có thể vác được cái đài phun nước này về thành phố của mình thì tuyệt” Alex hồ hởi chỉ cho tôi đài phun nước cực lớn nằm ở trung trâm của công viên.

“Cậu tham vừa thôi, tôi thấy chỉ cần ngắm nhìn nó là đủ sung sướng rồi.” Bởi nó quá đẹp, quá hùng vĩ, và nó 1 phần của Gaudi, Thật oan uổng khi không ai xướng tên nó lên trong những công trình của ông, giống như một người đẹp bị lãng quên. Tôi gọi đó là Người đẹp ngủ trong rừng, và có tôi đây, tôi tới để giải thoát cho em, mang em tới cho nhân loại chiêm ngưỡng.

Đài phun nước đồ sộ với dãy bậc thang kéo dài lên mang theo cảm giác những lâu đài một thời. Những cây cọ mọc ngược xuôi, làm nổi lên những bức tượng trắng tinh  hình rồng có cánh ở ven và tượng các vị thần tiên giữa hồ nước. Từ trên tầng hai của đài phun nước nhìn xuống làn nước trong veo xanh lục lại càng say đắm . Từ đâu nữ thần chiến thắng rong cỗ xe ngựa màu vàng về tọa trên chóp mái mang hào quang cho cả vùng trời. Vào những tối thứ 7 ở đây thường có màn biểu diễn nhạc nước sôi động, hấp dẫn, chắc chắn không thể bỏ qua, nhưng tiếc là tôi lại vô duyên quá nên không tới đúng thời điểm. Mà chúng tôi cũng không thể đợi được, dù Alex có ý ở lại đó mãi mãi, nhưng tôi vội kéo cậu chàng đi tới Sagrada Famillia.

Nhà thờ tổ mối là một trong những kiệt tác của Gaudi. Nhưng quả thật chưa bao giờ tôi để ý thấy cây thông nhỏ xíu ở phía trước nhà thờ cùng những thiên thần cánh trắng. Một hạnh phúc hoàn hảo đối nghịch với cái đau thương tang tóc của những con người và vị thần leo lắt trên mái vòm. Có lẽ Gaudi sợ làm đau thánh thần trên cao, ông cho bao các tháp nhọn bởi những hình thù hoa quả kì dị. Tôi ngồi nghĩ mãi chẳng hiểu sao cái mâm ngũ quả kia lại được chệm trễ quá sức lạc lõng với màu nâu u ám phía dưới. Có Chúa mới biết được bộ óc thiên tài ấy nghĩ gì. Tôi nhớ đã không biết bao lần tôi ngồi ngắm nhìn bức hình nhà thờ vĩ đãi này trên bìa quyển sách yêu thích “Kiến trúc sư Gaudi”, và hôm nay ước mơ đó thành sự thật, thật tới ngỡ ngàng. Lần này thì tới phiên Alex lôi tôi đi, cậu ta đói meo rồi.

Chúng tôi quyết định thử món Pallea truyền thống, là một món cơm hải sản vàng ươm. Alex không ăn hải sản, nên chúng tôi gọi loại đặc biệt có cả thịt gà kèm. Tôi cho cậu ta hết thịt gà, cậu ta cho tôi hết mousse. Tôi ăn ngon lành cả nồi đầy, hoàn toàn mệt mỏi cho cái kế hoạch giảm cân. Vác cái bụng to bự, chúng tôi lết về căn hộ của Chengsui, anh bạn người tàu học cùng tôi và Alex. Alex từ ngày mất học bổng, cậu ấy cũng vô gia cư phải tới đây sống tạm trong phòng khách. Còn tôi, tôi may mắn khỏi nói, bởi tôi có một chiếc giường xinh xắn tuyệt đối trong phòng cô bạn người Iran có tên Paratus. Trong tiếng Iran, Paratus có nghĩa là chim én và tôi thấy mùa xuân trên  nụ cười xinh đẹp, hiền lành của chị ấy. Tối đó, tôi gặp những MERIT khác, họ cũng vui tươi, hăm hở, lo lắng như tôi năm đầu. Tôi ngồi nói trời đất như thể mình là chuyên gia. Chúng tôi uống Sangria và chips. Chúng tôi cười và nói về những chuyến đi đang vẫy gọi. Tôi thấy mình trong họ. Cuộc sống là thế.

Sớm mai tỉnh dậy, ra ban công, tôi thấy bình minh về trên thánh địa Camp nou, vậy là tôi vồn vã tới đấy khi áng trời còn hồng rực. Tôi thích Barca còn Alex có lẽ là 1 culé điên cuồng , có lần cậu ấy hỏi:

“Đoán xem năm nay tôi tự mua gì tặng sinh nhật mình”

“Vé vào xem Barca thi đấu”

“Cậu hiểu tôi quá rồi” Alex vui như chưa từng như thế.

Dằn lòng mua vé vào cửa với giá 19e, tôi lượn hết các tầng trong Camp Nou để ồ à trước đống cúp danh giá của câu lạc bộ này. Những Thery Henry, Ronaldino, Trevis, Messi ,ở khắp nơi, kẻ cười người khóc, nhưng họ thật rạng rỡ, tôi giật mình “có những kẻ sinh ra trong vinh quang, nhưng có những kẻ chết đi không có gì”, kẻ đó là tôi sao? Tôi lẫn lộn giữa những xúc cảm sung sướng, buồn tủi, tự hào, tự ti cho tới khi chạm mắt tới mặt cỏ Camp Nou. Tôi ước mình được chạy trên đó thì thật tuyệt, nhưng không, họ chỉ cho tôi đứng trên khán đài mà ngắm dòng chữ “ Mes que un club” – Barcelona không chỉ là một đội bóng, có lẽ họ là cả một đế chế.

Alex có vẻ đã toại nguyện, cậu ấy dường như muốn ngừng, tôi thì vẫn đi không ngớt, tôi bảo “Tôi tới đây vì Gaudi và tôi sẽ không ra đi khi không xem hết các ngôi nhà của ông”,

“Ừ thì đi, dù sao bây giờ tôi cũng là lữ hành ở Barcelona, ở trọ, và sắp phải về nhà” Alex chua chat nói. Vậy là chúng tôi tới Parc Guell, nơi có con thằn lằn gốm nổi tiếng.

Công trình trứ danh này được Gaudi xây dựng từ năm 1900 tới 1914 theo yêu cầu của Eusebi Guell, và chính tên ông sau này được đặt cho công viên này. Công viên nằm trên địa thế cao nên tôi leo toát mồ hôi mới tới. Thật không thể nói hết nỗi vui mừng khi nhìn thấy nó, khi thấy cổng chào, cùng 2 ngọn tháp xinh đẹp. Dãy cầu thang dài chạy dọc theo hai bên kéo dài những bức tường gốm hai màu xanh trắng với có những chúp tua tủa lên trời, y chang bộ xương khủng long khổng lồ, khiến tôi vô cùng thích thú. Đặc biệt nhất là con thằn lằn mosaic đầy màu sắc tọa chệm trễ ngay  nơi giao hai dãy cầu thang. Ai tới đây cũng phải ôm chầm lấy con thằn lằn này để biết chắc là mình đã tới Parc Guell. Từ chỗ thằn lằn đi lên một chút là không gian vô cùng rộng với những hàng cột đất sét chen chúc như những cánh tay nâng nền tầng 2 của công viên.

Tầng 2 của công viên là khoảng sân rộng, nơi ngày xưa dùng để họp chợ, nhưng giờ chỉ có cát bụi cuộn lên theo từng cơn gió, làm tôi nhớ say đắm cái không khi nhộn nhịp người ngựa của bản nhạc Phiên chợ Ba Tư. Ừ nhỉ, biết đâu xưa đây cũng vậy.

“”Này tôi có thể thấy biển” Alex gọi tôi lại bên hang ghế mosaic đẹp kì diệu, như đường viền trang trí của khoảng sân. Dãy ghê này được tạo theo dáng của con rắn biển, với những họa tiết độc đáo xen kẽ những họa tiết Catalan truyền thống. Có người bảo khi xây dựng dãy ghế này, Gaudi đã yêu cầu những người thợ khỏa thân ngồi trên đất sét ướt để lấy lại dấu mông họ làm viền ghế. Có lẽ vì thế mà tôi cảm thấy vô cùng thoải mái khi ngồi ở đây. Người xung quanh vẫn cứ qua lại, tôi nhắm mắt, cảm nhận thế giới riêng của mình, gió thổi trên mặt, tay chạm những hàng họa tiết mosaic mát rượi. Ngày hè không hể oi ả.  Khi mở mắt ra, tôi thấy Alex ngồi thừ người . Tôi biết hơn ai hết cậu ấy tiếc vô cùng cảnh đẹp ấy, khoảnh khắc này.

Để thực hiện hết các giấc mơ, tôi vội vã dời Parc Guell để tới với những ngôi nhà khác của Gaudi. Tôi nhảy chân sáo tới Casa Mila. Đây là tòa nhà với bề ngoài dường như được cắt gọt rất ngọt. Trên nóc tòa nhà là những bức tượng với những khuôn mặt kì lạ. Tôi đoán là Gaudi đã mang những bức tượng ở đảo phục sinh về, đeo mặt nạ sắt cho nó, rồi đắp đất sét bên ngoài, Ai mà biết được, chỉ biết tôi thích những bức tượng này vô cùng.

 

Vẫn trên trục đường này, chỉ cần đi lên 1 chút, phía bên kia đường, hoàng loạt nhà cộp mác Gaudi hiện lên khiến bạn phải sững sờ. Đừng ngạc nhiên nếu Gaudi làm bạn phải bật khóc vì vẻ đẹp hoàn mĩ của những casa ở đây. Casa Battlo là một ví dụ tuyệt vời.  Tòa nhà với lớp vỏ ngoài xù xì và mái ngói rực rỡ những màu sắc mà tuyệt nhiên bạn không thể phân biệt được đó là màu gì. Sự pha màu khéo léo giữa hồng, xanh da trời, nhũ khiến ngôi nhà nhìn như da một con kì lân hoặc rắn chúa.

“Tôi yêu Gaudi chết mất” tôi quay sang Alex. Cậu ta cười như thể “tôi biết mà, giống như tôi yêu  đội bóng Barca”. Tôi còn muốn đi nữa, đi xem hết công trình của Gaudi và đi ra biển. Nhưng ngày mai Alex phải bay về Bỉ lấy đồ sớm nên chúng tôi đi về.

Tôi về nhà đói meo, trong khi Chengsui đang hì hục nấu cho bữa tối, cậu ta không thèm mời tôi, dù tôi vừa tặng cậu ta cả bịch chocolate tươi lạnh, tôi biết tụi Trung Quốc mà. Paratus thì khác hẳn, chị ấy nằng nặc không chịu nhận hộp chocolate, còn nấu cho tôi món cơm thịt bò băm ngon tuyệt. Chúng tôi ngồi nhâm nhi và ôn lại kỉ niệm, mặc dù cậu chàng Trung Quốc đâu có kỉ niệm gì với chúng tôi. Lại 1 đêm nữa tôi đi ngủ với cái bụng ì ạch và nơm nớp lo sáng mai tỉnh dậy không thấy Alex nữa.

Sáng sớm trở dậy, tôi đã không thấy cậu ấy thật. Tôi vội vã bước ra ban công, cậu ấy ở đó mặt buồn như lúc nào cũng vậy. Chúng tôi ngắm bình minh thu của ngày cuối cùng.

View ở đây đẹp thật”

Ừ, tôi nghĩ nếu tôi được học ở đây năm nhất, chắc chắn tôi đã khá hơn, tôi cảm thấy vô cùng thoải mái khi ở đây” Alex buồn bã

“Không sao, dù sao bọn mình cũng đã rất vui ở Bỉ, đừng bi quan thế” nhưng thực ra trong lòng tôi muốn thét lên, sao cậu lại có thể sai lầm để mà bỏ lỡ tất cả.

“Ừ, nhưng dù sao tôi cũng tiếc, khi đã bỏ qua cơ hội tuyệt vời như MERIT”

Tôi không nói gì, vỗ vai cậu ta, tôi muốn nói nhiều lắm, hơn cả những gì tôi có thể nghĩ, Cậu là bạn thân nhất của tôi cơ mà.

Alex tạm biệt tôi “Cảm ơn vì tất cả, cố lên nhé, cậu rất khá, đừng để ai làm cậu lung lạc”, tôi cười, tôi chúc cậu ấy lên đường may mắn và hẹn gặp lại. Thế thôi.

Gaudi dường như không thể níu chân tôi nữa rồi. Tôi kéo lê đống hành lý ra bến xe rồi một mình ra biển. Biển Barcelona không đẹp nhưng sóng mạnh và cát vàng. Tôi ngồi trên bờ, nhìn những đứa trẻ đang đùa nghịch. Tôi luôn ước tới Barcelona nhưng không phải để tận hưởng những giây phút buồn thế này. Tôi ngồi khóc một chút. Lời ước hẹn của tôi và Gaudi đã thành sự thật, nhưng lời hẹn của tôi và Alex sẽ chỉ như cơn mưa, đến rồi đi. Mà quả thật đã có những cơn mưa nhỏ giọt  xuống bầu trời Barcelona khi tôi rời khỏi.

Tôi ngồi trên xe bus, để Barcelona dần dần chìm qua lớp bụi đường. Trời càng lúc càng lạnh, tôi vùi mình trong lớp áo khoác, buồn như cả tảng núi  đang đè sâu lên vùng cảm giác. Xe bus lao qua vùng hoang dại, những ngọn núi đằng xa, những cây bụi lùm, những vùng đất bụi đỏ ẩn mình dưới lớp ánh sáng đỏ quạnh của buổi chiều thu. Mặt trời quăng xuống nhưng tia nắng yếu ớt và cả vạt trời chiều rực rỡ. Chẳng phải đó là lời chào tạm biệt tuyệt vời nhất, nhưng cũng là lời hẹn gặp lại diệu kì. Hẹn gặp lại vào ngày mới nhé Alex.