Đế chế Mycenae

“Ông là vua của đế chế hùng mạnh và cực kì giàu có. Ông có thể thu hút thần dân bằng giọng nói tuyệt vời của mình. Ông có phép thần thay đổi màu da, khi sinh ra là da đen, nhưng chết đi như một kẻ da trắng” Arnab bắt đầu

“Ông còn là kẻ lưỡng tính, yêu đàn bà, và thích những cậu bé trai, như hầu hết các vị thần ở núi Olympus, mà điển hình là Zeus, haha” tôi đệm vào cái điểm chung nghe thật  “giật gân” của các vị thần được miêu tả trong quyển sách “Greek gods” của Arnab.

“Ha ha, chí lý…. và ông ta sống ở mảnh đất thần thoại Neverland ” Alex thích thú thêm vào

“Tuyệt hảo, Micheal Jackson đúng là vị vua vĩ đại, và có chất thần thánh hơn bất kì vị vua thực tế nào. Micheal xứng đáng có một hầm mộ cực kì như thế này” Arnab chốt lại.

Sự thực là chúng tôi đang đứng trước những hầm mộ vĩ đại ở Mycenae, nơi trú ngụ của các vị vua xứ này. Và khi đọc những tấm bảng nói về các vị vua, chúng tôi bắt đầu tìm kiếm xem thời đại chúng ta bây giờ có vị vua nào xứng đáng được lưu danh như thế, và đó chỉ có thể là ông vua nhạc pop Micheal Jackson. Thậm chí đế chế của Micheal còn rộng lớn bội phần so với sự ngự trị của Mycenae xưa kia.

Đế chế Mycenae

Tôi biết tới Mycenae lần đầu tiên là khi bắt đầu chơi “Age of Empire”- Đế chế, trò chơi ma lực hấp dẫn tôi cả một thời kì cấp 3. Những máy bắn đá, cung tên, ngựa chiến, quân Minoan, quân Hittie, quân Mycenae… ám ảnh tôi trong từng giấc ngủ. Và khi tới Hy Lạp, bước vào bảo tàng Quốc gia, tôi ngỡ ngàng khi gặp lại “ông bạn lâu năm” và ngỡ ngàng hơn khi thấy “ông ấy” thực sự là một người khổng lồ với sức mạnh không tưởng.

Đế chế hùng mạnh Mycenae ra đời từ thời kì đồ Đồng, hàng ngàn năm trước công nguyên. Với sự phổ rộng khắp châu âu, châu á, đế chế này để lại dấu ấn trên nhiều nền văn minh, đặc biệt là văn minh Hy Lạp. Trong bảo tàng Quốc gia Hy Lạp, có cả một tầng để nói về thành tựu của đế chế này. Tuy nhiên ngày nay ở Mycenae, những di tích còn lại không nhiều, ngoài thành cổ ngập tràn hoa vàng tháng giêng ấm áp, bên cạnh những ngôi mộ lạnh lẽo.

Đón chúng tôi là Cổng đá sư tử (lion gate) với hình hai chú sư tử cái tuyệt đẹp, đứng trên hai chân, còn hai chân kia bám vào chân một chiếc cột. Ngày xưa nhiều cuộc tranh cãi nổ ra xem đó là sư tử đực hay cái, phải nhờ nhúm lông đuôi của hình khắc, họ mới xác định được giới tính của chúng. Hai chú sư tử đối xứng tượng trưng cho sự hài hoà giữa xã hội và văn hoá, còn cây cột đại diện cho hình ảnh một vị nữ thần. Tuy nhiên tôi cũng không biết vì sau cổng vào thành cổ lại mang đặc tính nữ như thế. Có thể vì xưa kia, trước khi tôn thờ 12 vị thần Olympian mà đứng đầu là Zeus, thì người Hy Lạp dành sự ái mộ của mình cho nữ thần Gaia – người cai quản đất (Gaia hay gaea nghĩa là đất). Theo quyển sách “Greek gods” của Arnab thì vị nữ thần này là mẹ của những kẻ khổng lồ Titan hay cũng chính là thần sinh ra các vị thần. Cũng có thể vì đây là nơi chôn cất các vị vua nên cổng sư tử góp phần mang lại sự hài hoà âm dương, mang tới sự cân bằng, bền vững cho khu lăng mộ.

Sau khi đi qua cổng Sư tử, chúng tôi lao vào những ngôi mộ to lớn được gọi là Tholos. Ở Mycenae giờ đây còn lưu giữ được hai ngôi mộ cưc lớn của Atreus và Clytemnestra. Những ngôi mộ nàyđược xây bằng những phiến đá lớn và gạch bùn,  có dạng tổ ong (beehive) đâm sâu vào lòng đất. Tôi chui vào bên trong mộ thấy cả khoảng không rộng lớn tạo bởi lớp tường bao quanh dạng hình tròn, nhưng vút lên cao thì chụm lại giống như đầu bút chì. Có thể làm như thế để các vị vua giao lưu được với chúa trời dễ hơn chăng? Tôi có cảm giác như mình đang đứng trong một kim tự tháp tròn đầy bí hiểm. Nhưng việc chia gian thì ngôi mộ này hơi giống mộ của người Việt cổ, bởi cùng gồm phần hành lang và phần phòng chính rộng rãi. Tôi nhìn quanh quất mãi không phát hiện ra nơi đựng quan tài ở đâu, bởi nó có thể ở bất kì đâu. Tôi bỗng chốc rùng mình bởi sự lạnh lẽo toát ra từ những bức tường đá và một phần vì tiếng vọng âm vang của giọng nói mình, nhưng vẫn hào hứng quay sang Alex:

“Chỗ này mà để ngủ trưa vào ngày hè nắng nóng thì tuyệt”

“Haha, mày cứ thử ngủ ở đây xem, rét vì sợ ngay” Alex doạ lại tôi. Sống lưng tôi bỗng rét lên vì câu nói đó, biết đâu đấy, chúng tôi đang quấy quả giấc ngủ ngon ngàn năm của những vị vua xứ này mà.

Chuồn vội khỏi khu lăng tẩm, chúng tôi hoà vào những con đường sỏi ngập tràn hoa vàng lãng mạn hết sức. Thành cổ hiện lên như mê cung đá ngoằn nghèo cô độc. May mà những bức tường đá không cao nên chúng tôi không bị lạc trong mê hồn trận ấy. Tôi có thể ngồi hàng giờ để ngắm cảnh hoa đá chen nhau như thế không biết chán.  Nhưng thèm được nhìn toàn cảnh bức đồ bàn này từ trên cao nên cùng Alex, tôi leo lên đỉnh núi tìm 2 chú “vượn người” Pierre và Arnab, trong khi Saru khá mệt mỏi nên đã quyết định ngồi nghỉ tại bảo tàng.

Trên đỉnh của Myceane, gió thổi mát lành qua những bụi lau, những nhóm hoa, qua tường đá, hút sâu vào vào một hang động nhỏ. Theo chân đôi vợ chồng người Đức, chúng tôi dấn sâu vào hang động tối om chỉ nhờ vào chút ánh sang nhỏ nhoi từ điện thoại của Pierre.

“Á” Alex kêu lên làm tôi thót tim. Tôi cứ tưởng cậu chàng trong thấy một hố toàn xương người và những thứ đáng sợ nên hăm hở tiến lên. Hoá ra là do bậc thang trơn nên cậu ấy bị trượt chân, hú hồn tôi mà đi trước thì dễ bị ngã kiểu domino theo Alex rồi. Vì bậc thang bé lại trơn nên chúng tôi quyết định túm vai nhau đi kiểu đoàn tàu cho an toàn. Bóng tối ngày càng đậm đặc như muốn nuốt chửng. Nhưng chúng tôi vẫn đi, lòng tràn đầy hồi hộp. Theo như trong phim thì có thể chúng tôi sẽ kiếm được một kho báu và đúng thế chúng tôi phát hiện thứ còn quý hơn vàng

“Nước đấy” Pierre nói vọng qua vai.

Hoá ra đây giếng ngầm là nơi các nô tì xuống để lấy nước. Mạch nguồn ngọt mát này đã từng nuôi sống cả một toà lâu đài, tuyệt thật. Tuy nhiên chúng tôi có phần hơi thất vọng. Chúng tôi hậm hực leo lên khỏi miệng hang, đi vòng sang bên kia đỉnh núi. Những bậc thang thoai thoải đưa chúng tôi đến phía những con đường mòn vắng vẻ.

“Cool!!!!!!!!!!!!!!!!!” Arnab reo lên. Tôi cuống cuồng chạy lại phia hốc đá nơi Arnab và Pierre đang nhìn chằm chằm vào.

“Hết xảy” tôi mừng rỡ reo lên. Trước mắt chúng tôi, hiện lên một hốc đá chứa đầy xương cẳng tay, cẳng chân người đã sậm màu thời gian.

“Phew, chắc là những kẻ tò mò thích leo trèo như chúng ta, không may ngã xuống cái hố đáy thôi” tôi hớn hở.

“Hoặc từng có án mạng giết người bí ẩn ở đây” Alex hùa vào. Mấy đứa bạn tôi nhìn có chút hốt hoảng. Cả lũ rủ nhau chuồn khỏi sườn dốc, nhưng quay lại đã không thấy Pierre đâu. Cậu chàng lại biến mất như mọi khi để tận hưởng thiên nhiên một mình. Đợi  mãi không được, dù Alex đã trổ tài gọi và hú các kiểu, chúng tôi quyết định rời đi không có anh chàng người Bỉ. Nhưng khi xuống tới chân núi gặp Saru, chúng tôi đã thấy Pierre đang săm soi trong hàng quà lưu niệm. Tôi vỗ vai cậu ta

“Mua gì thế?”

“Tôi mua quà sinh nhật cho đứa cháu”. Pierre vẫn lúi húi với đống bút chì dẻo, bản đồ, và  sách thần thoại Hy Lạp.

“Này, chắc chắn tôi sẽ còn trở lại nơi này, còn quá nhiều thứ để xem” Pierre quay đôi mắt xanh trong sang tôi. Tôi có cảm giác anh chàng nhìn thấu được suy nghĩ của tôi lúc đó.

“Khi nào quay lại đây, thì rủ tôi đi cùng nhé”

“Bên kia đỉnh dốc

Người ta đồn thế thôi

Ở nơi kia chỉ là ẩn số……….. “

Zeus đã bỏ Olimbia

(Olimbia dịch từ cách viết kiểu Hy Lạp của Olympia huyền thoại)

“Này mọi người có nhớ hết tên 7 kì quan thế giới cổ đại ko?” Pierre bắt đầu phá tan sự im lặng của “bầy cừu”, khi ôtô đang chạy sâu xuống phía nam Hy Lạp

“Xem nào, kim tự tháp Ai Cập “ Arnab như mọi khi, luôn là người trả lời mọi câu hỏi của Pierre đầu tiên

“Mộ Hallicarnasuss, hải đăng Alexandria” Alex bắt đầu vốn hiểu biết vô biên của cậu chàng

“Vườn treo Babylon” có vẻ như tôi đã bắt đầu thoát ra khỏi giấc ngủ “say xe”, may mà Pierre thỉnh thoảng lại nghĩ ra vài trò để lôi tôi về với thực tại. Không thì có lẽ tôi ngủ suốt ngày mất.

“Tượng Helios ở đảo Rhodes, tượng thần Athena nữa” tôi hào hứng hơn bao giờ hết

“Hmn, phải là tượng nữ thần chiến tranh Artemis chứ” Alex luôn có trí nhớ tuyệt vời, đáng hâm mộ.

“Đủ chưa nhỉ?Babylon, Alexandria, Helios, Artemis, kim tự tháp, Hallicarnasuss. Mới chỉ có 6” Arnab ngồi nhẩm tính “Vậy kì quan thứ 7 là gì?”

“Là tượng Zeus ở Olympia”  Alex đắc thắng

“Sao mọi người có thể quên được kì quan quan trọng nhất như thế” Pierre mãi mới phát biểu sau khi khơi mào câu chuyện

“Tại sao nó lại quan trọng nhất được chứ?” tôi bật lại như phản xạ tự nhiên

“Vì đó là nơi chúng ta chuẩn bị tới” Pierre cười hớn hở khi bật mí cho chúng tôi

“Tuyệt hảo” cả lũ hét lên. Một cảm giác cực kì. Riêng Saru vẫn bình thản như mọi khi, cô nàng đã quá mệt với hành trình khách sạn – ôtô, và chỉ mong mau chóng quay về Louvain la neuve bình yên để ăn những món ăn Ấn Độ cay xè. Thật sự mà nói, đi chơi với con gái đôi khi cũng thật phiền.

Zeus đã bỏ Olympia

Chúng tôi tới Olimpia vào một ngày mưa ủ dột. Trời đất xám xít và mưa giọt ngắn giọt dài, buồn tới thảm khốc. Chúng tôi gần như là những vị khách duy nhất quấy quả đỉnh núi của các vị thần này.

“Này đây có phải đỉnh Olympus như trong thần thoại không nhỉ?” tôi bắt đầu tò mò

“Không, Olympus ở nơi khác, nhưng Olympia này cũng tuyệt vời không kém, đó là nơi sinh ra Olympic của thế giới hiện đại ” Pierre giảng giải cho tôi.

“Lạ nhỉ, tượng Zeus ở đây cơ mà” tôi vẫn vặc lại như mọi khi

“Không chỉ có tượng Zeus đâu, còn nhà thờ Hera, và rất nhiều công trình thần thánh nữa đấy. Nhìn kìa ở đó là khu nhà dành cho vận động viên ở trong thời gian luyện tập trước khi thi đấu. Còn kia là nhà của các vị hiền triết. Có thấy mấy cái cột xa kia không, đó là xưởng làm tượng Zeus của Phidias đấy” Pierre giảng giải như một tourguide chính hiệu. Thật tuyệt vì tối qua anh chàng đã nghiền ngẫm sách vở trước và đi đâu cũng khư khư bản đồ.

“Olympia dường như là một thành phố thu nhỏ nhỉ, có cả sân vận động, nhà thi đấu, đền thờ, và mọi thứ “ tôi tấm tắc.

“Này nhảy vào xem đế tượng không?” Pierre rủ rê

“Tuyệt”, nói chưa dứt câu, tôi nhảy phóc qua hàng rào dây thừng có một biển cấm to oạch “Cấm vào trong”. Sự xâm nhập bất hợp pháp thật là dễ chịu.

Nhớ ngày bé, tôi nghiềm ngẫm quyển sách “Bảy kì quan cổ đại” của bố, thấy hình vẽ tay đền thờ Zeus, với bức tượng khồng lồ, và hình ảnh một con người nhỏ bé đứng dưới chân ông trông như con kiến, khiến tôi đã rất ao ước được xem thực hư sự vĩ đại của tượng. Dĩ nhiên bây giờ bức tượng không còn, nhưng trong bảo tàng ở Olympia, người ta đã dựng nên một bức tranh lớn bức tượng của Phidias , đồng thời làm mô hình đền Zeus, để mọi người để có thể tưởng tượng ra được kì quan khi xưa. Tượng làm bằng đá hoa cương (có nơi thì nói làm bằng đồng đen) được trạm trổ vàng và ngà voi, lột tả sự uy nghi của Zeus trên ngai. Trên một bàn tay, Zeus đỡ Nike – nữ thần của chiến thắng, và tay kia giơ cao quyền trượng. Bức tượng toả ra sức mạnh tột đỉnh của vị thần của các vị thần. Xung quanh Zeus những hàng cột Doric vươn lên cứng cáp, đỡ lấy mái đền. Ngày xưa người ta vẫn gọi  đùa bức tượng này là “Zeus không thể đứng” bởi mái đền rất gần đầu Zeus và cũng bởi vì Zeus quá ư to lớn.

Lao vào trong khu vực cấm, chúng tôi bắt đầu đi săm soi những mảng tàn tích. Trên nền móng bằng đá phẳng rộng của khu đền, còn đó những chân cột Doric to lớn với đường kính khoảng 1m, vẫn hằn rõ những đường khía cạnh song song, mạnh mẽ. So với Doric, hai loại cột phổ biến còn lại của kiến trúc Hy Lạp là Ionic và Corinth có vẻ mềm mại nữ tính hơn. Cột Doric rất phổ biến và dễ dàng nhận ra bởi phía trên đỉnh cột không được chạm khắc tỉ mỉ mà chỉ đơn giản là một phiến đá nhẵn. “Simple the best” nếu ai theo trường phái này thì sẽ mê đắm Doric và coi nó như phát minh vô giá dành cho các đền đài. Tôi đang leo trèo trên các cột Doric và tưởng tượng tượng Zeus to lớn đang nhìn mình từ trên cao, thì có tiếng nói vọng lại “Mời các vị xuống ngay”. Bảo vệ từ đâu đã ập tới quát chúng tôi, tôi và Pierre đành lủi thủi nhảy xuống hoà vào dòng người đang xem đền thờ thần Hera.

Hera là vợ của Zeus, là nữ thần của gia đình và phụ nữ. Hera nổi tiếng đẹp và tài năng, tuy nhiên ấn tượng của tôi về người đàn bà này là con người ghen tuông và nham hiểm. Có lẽ bởi tôi xem phim về chàng Hercule quá nhiều, nên mới ghét Hera tới vậy. Nhưng tôi cũng yêu bà không kém, bởi nhờ Hera chúng ta có dải ngân hà (milky way) tuyệt đẹp để mà mơ mộng. Đền thờ Hera rất to lớn, và có nhiều gian, tuy nhiên ngày nay, tất cả chỉ còn gió lùa qua đá (hình trên)

“Này, ngọn lửa Olympic” Saru reo lên

Giữa khoảng sân rộng, hiện hữu phiến đá trơ trọi bên cạnh biển chú giải “Olympic flame”. Thật bất ngờ vì  sự sơi sài và đơn giản của nơi đây, tôi đã nghĩ việc tạo ra ngọn lửa Olympic phải hoành tráng và thiêng liêng lắm. Nhưng có lẽ đây phải nơi rất đặc biệt, nơi tuyệt vời nhất đỉnh Olympia để có thể thu gọn được lửa trời. Nơi đây, ngọn lửa của Potoleme được đưa tới cho loài người từ ánh nắng của Helios, rồi gửi tới ngọn đuốc Olympic, sau đó ngọn lửa sẽ đi du ngoạn 1 vòng thế giới trước khi được đưa tới tháp đuốc ở nước tổ chức Olympic. Hình như ngọn lửa tinh thần ấy đốt cháy trong chúng tôi ngay tắp lự, khi chúng tôi chạm tay vào nơi tạo lửa thiêng.

Tôi với Pierre quyết định tiến hành cuộc thi chạy ngay tại sân vận động Olympia huyền thoại. Nơi hàng ngàn năm trước, những vận động viên đã luyện tập, đã thi đấu, đã giơ cao vòng nguyệt quế trong tiếng hò reo của khán giả. Chỉ tượng tưọng thế thôi, tôi cũng cảm thấy xúc động và muốn cướp ngay lấy cái vinh quang ấy về mình. Dĩ nhiên lúc này Arnab, Saru được đóng vai trò khan giả cổ vũ, Alex làm trọng tài, tôi và Pierre vào vạch xuất phát.

“1, 2, 3 bắt đầu” Alex phát động

Bất chấp trời đang mưa, tôi với Pierre hăm hở chạy tới vạch giữa sân, chứ nếu chạy cả sân chắc tôi lên thần mất. Nói chính xác là tôi chạy hùng hục, còn Pierre vừa chạy vừa nhởn nhơ đợi tôi. Với cái cẳng chân dài bằng cả người tôi, Pierre chỉ việc thong dong nhìn tôi khốn khổ. Tôi ước gì kết quả giống như chuyện Thỏ và Rùa, nhưng thực tế thì Rùa vẫn là rùa, Thỏ vẫn là thỏ. Thật tuyệt khi chạm tới vạch đích nhưng tôi vẫn thua cuộc. Tuy nhiên tôi đã thua trong sự cổ vũ, hò hét rất vui vẻ của vài vị khách du lịch có mặt trong sân lúc bấy giờ. Tôi yêu họ biết bao, nói như các bình luận viên nhà mình thì tôi đã “thua trong thế thắng”. Ngay cả  Pierre cũng  tỏ vẻ bất ngờ và tự hào về con bé mét rưỡi là tôi mà dám thách đấu với khổng lồ. Pierre vui vẻ xoa đầu tôi và nói:

“Không phải buồn, mày vẫn có thể là nhà vô địch, nếu thi ở hạng dành cho trẻ em”

“Được, thế thì lại chạy thi về vạch xuất phát ” dù lúc đó đúng là sức cùng lực kiệt, tôi vẫn vừa thở vừa thách đấu.

Hai bên đường, khách du lịch hò hét hơn bao giờ hết. Arnab và Saru thì vẫy tôi từ phía xa. Pierre thì vẫn đang nhàn nhã đi bộ trước mặt tôi, còn tôi dốc hết 20 năm tuổi trẻ để giữ đống ruột mề không lộn tùng phèo. Tôi nghi là Pierre có mắt ở sau gáy, hoặc gã giống ruồi có thể cảm nhận thấy sự di chuyển của không khí, hoặc là cao thủ võ lâm có thể cảm thấy sát khí từ phía tôi, mà khi tôi chỉ tới gần, anh chàng đã tăng tốc. Pierre có kiểu chạy nhẹ nhàng như Thierry Henry và nháy mắt, tôi đã bị bỏ rơi. Tôi hét lên:

“Không thể để Pierre thắng được”

Ngay lập tức hai chiến hữu của tôi là Arnab và Saru chạy ngay về đích, giơ cao tay như kẻ chiến thắng. Thế là chúng tôi có những kẻ chiến thắng xấu tính, miễn không phải là Pierre, thế là tôi vui rồi.

“Kể mà chúng ta đang ở thế giới cổ đại thì cuộc đua sẽ thú vị hơn biết bao”  tôi ra chiều tiếc rẻ

“Thú vị cái gì?” Saru tò mò không kém

“Ngày xưa các vận động viên nam thi Olympic đều không mặc gì, haha” đó là tất cả những gì tôi học được từ bảo tàng Olympia

“Haha, nhưng lúc đấy phụ nữ đâu được vào xem, nên dù Pierre có phải ở trần chạy, mày cũng có được thấy đâu” Alex hí hửng.

“Ôi phụ nữ ngày xưa thiệt thòi nhỉ?” đến cả Saru cũng phải lên tiếng bất bình.

(Tôi và Saru trước cửa sân vận động)

Ở thời cổ đại, thí sinh tham gia thi Olympic phải là nam giới người Hy Lạp và có cha mẹ là công dân tự do. Họ phải tới Elis trước cuộc thi 1 tháng, ở trong những căn nhà dành cho vận động viên để luyện tập. Trong một tháng, họ có huấn luyện viên riêng, và có cả chuyên gia chăm sóc sức khoẻ và massage cho họ. Phải công nhận là hết sức bài bản và quy củ, lại đảm bảo cạnh tranh công bằng. Nhưng điều kì cục nhất là tập luyện và thi đấu, thí sinh đều phải …. trần như nhộng. Có lẽ ngày xưa con người coi cơ thể họ là tạo vật đẹp đẽ nhất đất trời và với việc luyện tập không mặc gì họ có thể giao hoà cùng trời đất, hấp thụ những tinh tuý, cũng như sức mạnh của bà mẹ tự nhiên. Thực tế rất thú vị là từ “Gymnasium ” (thể dục) bắt nguồn từ Gympos nghĩa là naked (khoả thân) trong tiếng Hy Lạp, Hay thật đấy, từ nay tôi quyết không bao giờ nói “tôi đi tập thể dục đây” (I’m going to the gym) như thế khác gì nói “tôi chuẩn bị khoả thân” (I’m going to be naked). Bây giờ tôi hay lấy đấy làm cớ cho việc lười thể thao của mình.

Thật chẳng phải lúc nào tinh thần tôi cũng hăng hái thể thao như khi đến với Olympia. Để thưởng cho sự quả cảm của tôi, Alex hái lá olive giữa muôn ngàn cây olive xanh rờn nơi đây để kết vòng nguyệt quế. Nhưng Alex chẳng phải kẻ khéo tay và dù sao tôi cũng đâu có thắng cuộc, nhưng tôi vẫn cài vào tai mình một cành olive để thưởng cho một ngày xuất thần. Tôi đến trước tượng thần Nike – nữ thần báo tin chiến thắng (tuy nhiên bây giờ chỉ còn có cột trụ) ngẩn ngơ “Vinh quang chẳng tới với mình, bởi nó đã rời bỏ Olympia rồi”. Và cả Zeus cũng vậy, Zeus bỏ Olympia rồi.

Tượng thần Nike …..  mất đầu         Và đầu  tượng ……..nằm trong viện bảo tàng

Poros – một hòn đảo rất được

Từ khi bắt đầu hành trình Hy Lạp, tôi đã nói với Pierre “Dù có chết, tôi cũng muốn tới đảo”. Trong khi những hòn đảo xinh đẹp to lớn đều hoang vắng đợt này, chúng tôi chẳng dám liều mình bắt máy bay tới để mà phải ngủ ngoài trời. Cả lũ quyết đinh ghé vào Poros – 1 hòn đảo nhỏ cực kì xinh đẹp trên con đường dọc Peloponese. Phải nói đó là một hòn đảo rất được, xứng đáng là nơi thờ Poseidon vĩ đại.

Poros – một hòn đảo rất được

Dừng xe ở Galata, tôi và Saru tiếp tục gà gật trong xe, còn 3 anh chàng của chúng tôi băng đêm tối để tìm nhà trọ. Bên ngoài trời lúc này lạnh cắt da cắt thịt, tôi sợ cái cảm giác ở trong đêm lạnh mà không biết đâu là đường về nhà, thế nên tôi cứ ru rú trong Ford để đợi tin. Sau một hồi chạy ngược xuôi, chúng tôi cũng tìm ra hostel như trong Lonely planet gợi ý. Đêm đã điểm chuông thứ 9 khi chúng tôi an vị trong hostel ấm áp.

Sau một chuyến du ngoạn ngắn dọc bờ biển đêm, chúng tôi tạt vào một quán Kebab nhỏ bên đường. Quán nhỏ bé, nhưng ấm nóng bởi các lò nướng thịt bò, thịt gà, và lợn đang hoạt động hết sức. Hương thơm tràn ngập không gian nhỏ bé, át cả mùi mặn nồng của biển đêm. Kebab là thứ thức ăn thông dụng và dễ tìm bậc nhất ở Hy Lạp. Thế nên chúng cũng trở thành bạn đồng hành ngọt ngào nhất của chúng tôi trong những ngày rong ruổi. Kebab đặc sắc nhất của Hy Lạp gọi là Pitta Girop. Sự hoà quyện ngọt ngào của thứ nước sốt béo làm từ mayonnaise, cùng bột ớt, rau củ và thịt nướng thơm lừng, được cuốn tròn trong những chiếc vỏ bánh giống Tortilla, làm cho Pitta nơi đây mê đắm lòng người. Lúc nào đi qua những gian hàng này, tôi cũng thèm muốn cồn cào, háo hức những miếng đầu tiên, để rồi không bao giờ hoàn thành phần ăn của mình. Trong khi đó Arnab đang hoàn thành cái thứ 2, và Pierre thì đang liếc sang cái pitta dở của tôi với ý “Để tôi ăn giúp”. Arnab vẫn bảo “Thật tuyệt khi có những kẻ đồng hành là dân Bỉ, họ vừa dẫn đường, vừa làm lái xe, lại có thể xử nốt đống thức ăn thừa bất cứ lúc nào”. Pierre là mẫu hình hoàn hảo như thế.

Trời về khuya càng lúc càng lạnh, cái thú vục biển đêm không thể chiều theo được. Chúng tôi khoác vai nhau đi tìm hang café để kiếm chút chocolat chaude ngọt ngào. Nhưng giờ này, xó tỉnh lẻ như Galata dường như đã an giấc. Chúng tôi ngược trở về hostel trong tình trạng lạnh cóng tay và mũi đỏ hoe. Tôi ước giá mà có vin chaude ở hội chợ noel để uống thì tuyệt. Và tôi đã ngủ trong giấc mơ thấm đượm vị thơm nồng của vin.

Binh minh xám bạc nơi chân trời khi chúng tôi tỉnh giấc. Khoác vội chiếc áo khoác, tôi ra lan

can bắt ánh nắng của ngày sắp mới. Biển sớm mang vị nồng mặn và hơi tanh tao. Biển Aegean lúc nào cũng nổi tiếng bởi cái trong xanh vô tận. Khủa tay vào làn nước, tôi cứ sợ mình có thể phá đám sự an bình của những đàn cá bơi dưới đáy. Chúng thủng thẳng bơi lội, nhẹ nhàng quẫy những cái đuôi xinh như chọc tức kẻ quan sát. Tuy cá bơi, nhưng biển rất tĩnh. Cả khối nước đông lại như thạch, một thứ thạch trong suốt ngọt lành và mát lạnh. Chỉ khi tàu thuyền neo đậu bắt đầu rục rịch tỉnh giấc, những dao động nhẹ rất nhẹ bắt đầu lan toả, nhịp nhàng như tiếng T’rưng loang trong không gian. Thánh thót và dịu dàng, cả mặt biển xao động, làm mấp mô lại những con thuyền.  Cô đơn quá con thuyền buổi sớm. Đứng đó bơ vơ, phủ trên mình màu xanh trắng hoặc xanh vàng, thuyền nơi đây nhỏ xíu như những chiêc caneau rung rinh rung rinh.

Những con thuyền bắt đẩu mở lòng ra đón các vị khách du lịch tới thăm Poros. Tôi cứ băn khoăn không biết có nên lên không. Bởi từ Galata, Poros hiện lên thật đẹp. Những toà nhà đặc trưng 2 màu xanh trắng của Hy lạp nhấp nhô ló ra sau những tán cây. Cả hòn đảo nhỏ xíu như môt mô hình đồ chơi, nhưng thật hơn những gì thật nhất. Tôi cứ sợ lỡ mình chạm chân đến đấy, thấy một hòn đảo xấu xí thì phải làm sao. Nhưng theo chân các chiến hữu tôi vẫn lên tàu  và chạm tới Poros chỉ sau 10 phút.

Giữa muôn vàn đảo ở Hy Lạp, tôi nghi Poros là hòn đảo nhỏ nhất. Với diện tích nhỏ bé chứa khoảng 4000 cư dân, lại rất gần Athina, đây là nơi nghỉ dưỡng cuối tuần tuyệt hảo cho dân thủ đô. Nếu đi theo đường cá bơi thì chỉ mất khoảng 2h từ Athina tới đây, nhưng đi theo đường “cá sắt” như chúng tôi thì mất 2 ngày liền, thật oan uổng. Nhưng cứ chạm chân lên Poros là chúng tôi không còn thấy oan uổng chút nào. Poros xứng danh là nơi giao lưu văn hoá, tinh thần của dân Athina cùng dân Peloponese.

Poros nhấp nhô với những dãy nhà xây dọc sườn. Những ngôi nhà màu trắng, sơn xanh đặc trưng của đảo Hy Lạp nổi bật lên trên nền trời xanh nhẹ, và không hề bị át vía bởi Aegean xanh đậm. Ai từng xem Mama mia, hay từng ngắm những bức tranh về Santorini sẽ không khổi rùng mình sung sướng khi chạm mắt những ngôi nhà hài hoà ở nơi đây. Những bậc thang trắng hân hoan, len lỏi giữa những dãy nhà, uốn éo theo từng hàng hoa  rực rỡ đưa chân khách lên tới đỉnh của Poros, nơi ngự trị tháp đồng hồ lâu đời, biểu tượng của đảo.

Tháp đồng hồ cũng đồng bộ với tông màu của đảo, xanh và trắng, vươn lên như ngọn hải đăng, giúp tàu bè từ nhiều hướng có thể nhìn thấy Poros từ xa. Quanh chân tháp, những con mèo hoang nhàn nhã đang tíu tít chuyện trò, con thì sưởi nắng, con thì nấp trong các bụi rậm, chỉ chực nhảy ra để hù doạ kẻ yếu tim. Alex chút nữa thì hét lên vì đang ngồi thì bị một con mèo béo núc níc “tấn công”. Những con mèo nơi đây thân thiện, dễ yêu, cứ tha thẩn ăn chơi không chút sợ hãi con người. Kì lạ là ở Athina chó chạy khắp đường, nhưng ở Poros mèo lại làm bá chủ.

Ở trên đỉnh của Poros, tôi có cảm giác như mình là Juliver lạc vào thành phố tí hon. Những ngôi nhà nhỏ bé,  ngói đỏ chen chúc nhau, như khẽ búng tay, là tôi có thể tốc mái bất kì căn nhà nào. Cảnh vật quả thật kì diệu, gió biển lào xào như cuốn tôi về với những giấc mơ ngày tôi còn cắm cúi đọc Đôrêmon và ao ước bước chân qua cánh cổng thần kì để vào thế giới tí hon. Ngày đấy tôi còn nghĩ biết đâu có thế giới kì lạ như thế thật, tôi đi trên mặt đất mà còn ko dám đi mạnh, sợ rằng sẽ giậm nát những người tí hon dưới chân. Tôi còn tưởng tượng có những kẻ khổng lồ ngoài vũ trụ bao la kia, họ coi trái đất như cái hộp đựng tiền xu, và hàng ngày khi thả xu vào đấy, họ sẽ nhìn thấy tôi. Ôi thật sự là tôi đã tưởng tượng ra những điều kì quái như thế đấy. May mắn Saru và Alex đã lôi tôi ra khỏi đầm lầy mơ mộng.

Chúng tôi men theo những cầu thang nhỏ, xuống khỏi những dãy nhà nhấp nhô. và bắt gặp Arnab cùng Pierre đang nhâm nhi café sáng trong một quán nhỏ ven biển. Tôi cũng lao ngay vào để thưởng thức một chút bánh táo cùng thứ nước cam tinh khiết ngon tuyệt trên đảo. Alex đang quanh quẩn với một con mèo béo ú, hình như nó có ý nhăm nhe cái bánh nhân cheese của cậu chàng. Arnab và Pierre vẫn tiếp tục hàn huyên những chuyện trên trời dưới biển về nước Đức. Tôi ngồi mơ màng nhìn ra biển. Có cái gì đó sâu thẳm từ biển, cứ như hút lấy rồi nuốt chửng cả trí tưởng tượng và sự mộng mơ của tôi. Tôi ngồi mà không chút suy nghĩ, chỉ đơn giản là nhìn. Saru chọc “Đang mơ có hoàng tử đến à?”, Không hề, tôi chưa bao giờ là con nhóc ngồi đợi cánh buồm đỏ thắm, tôi chỉ đang đợi cơn gió tây cực lớn để rong buồm cánh lớn ra đại dương xanh thẳm hy vọng. Tôi đã rong thuyền ra khơi Aegean xanh thẳm, nhưng cơn gió tây của tôi ở nơi nao?

Mystras giấc mơ hoang tàn

Ngày còn bé, cũng như bao nhiêu đứa trẻ khác tôi đưa được đưa vào đầu những công chúa, hoàng tử, những cô bé chăn cừu, những cậu bé tí hon của truyện cổ Andersen. Thế nhưng tôi chưa bao giờ mơ mình là công chúa, chưa từng ước mong hoàng tử, tôi chỉ mơ thấy những toà lâu đài. Những toà lâu đài với cái âm u ngàn đời luôn chứa những bí ẩn không bao giờ dứt về một cuộc sống tuyệt vời đã từng tồn tại. Có lẽ vì thế mà khi nhìn thấy những hình ảnh của Mytras, tôi không thể không thốt lên “Giấc mơ của tôi đây rồi”. Và tôi nằng nặc đòi đến Mystras cho bằng được.

Mystras giấc mơ hoang tàn

Ôtô của chúng hàng ngày vẫn leo lên leo xuống những triền núi ngoằn nghèo, nhưng tôi không còn sợ hãi. Tôi vẫn ngủ ngon lành và mơ trong tiếng Bouzouki. Pierre thường than phiền vì chuyện này. Cậu ta bảo mỗi lần nhìn vào gương chiếu hậu thấy tôi đã há hốc mồm ngủ là cậu ta cũng mệt nhoài theo, nhưng tôi vẫn không thể nào sửa được. Thỉnh thoảng Alex lấy máy ảnh chụp lại những khoảnh khắc “khó đỡ” của tôi để làm bằng chứng cho việc lười nhác của lũ con gái. Khi mà ngày ngày thì ngủ, tối tối lại ôm laptop xem phim, trong khi con trai vạch kế hoạch và kiểm tra thời tiết. Tôi vẫn nguỵ biện: “Tôi mới là kẻ làm việc vất vả nhất, khi mà phải ngủ để tránh nôn mửa lên các bạn, và tối thì phải xem phim để tránh làm phiền công việc của các chuyên gia”, nhưng chẳng ai tin.

Tôi thì tin, tôi tin chúng tôi là những con trâu khoẻ bậc nhất xứ Tây Âu. Mỗi ngày chúng tôi đi qua khoảng 2 hoặc 3 thành phố nhỏ để ngắm các di tích lịch sử. Ăn trưa được thực hiện ngay trên xe với các loại khoai tây chiên, bánh mứt cam hoặc xa xỉ hơn là những bánh nướng nhân táo, nhân cheese hoặc spinach tuyệt ngon của Hy Lạp. Giữa buổi chúng tôi nhâm nhi đống chocolate mà tôi mang theo (thói quen khó bỏ của tôi là đi đâu cũng tàng trữ chất gây nghiện này). Arnab vẫn thường bảo “Không thể tưởng tượng được mày cất giữ bao nhiêu chocolate trong người mà lúc nào cần cũng có”.

Ngày lang thang ở những thành phố nhỏ, nhưng tối chúng tôi tạt vào những thành phố lớn. Đêm xuống đường phố lạnh buốt và vắng tanh. Đang là đợt đông cuối tháng 1 nên gần như các thành phố hoá hoang vu, không khách du lịch, chúng tôi thường một mình độc chiếm cả khách sạn to đùng với giá bình dân. Thậm chí ở các đảo lớn lúc này, dân đảo còn đi nghỉ mát ở đâu đó gần đất nước tôi, để bơ vơ những hoang đảo, đó cũng là lý do tại sao chúng tôi không thể bước chân lên Santorini tuyệt mĩ.

Đêm qua tôi ngủ lại ở Sparta và đã có giấc mơ về người anh hùng Leonidas. Vậy đấy, trước kia nghe tới từ Leonidas tôi chỉ nghĩ tới loại chocolate tuyệt hảo ở Bỉ, nhưng bây giờ tôi biết Leonidas không chỉ là tên 1 cửa hang. Leonidas là bậc đế vương dũng cảm của người Sparta. Vào khoảng năm 480BC, quân Thespians cùng quân Spartans dưới sự lãnh đạo của Leonidas đã chiến đấu tới hơi thở cuối cùng để ngăn bước chân của Persian tiến vào trung tâm Hy Lạp. Trận chiến đẫm máu này tuy thất bại, nhưng đã nêu cao được tinh thần quả cảm của dân Lakedaimonians (xưa là vùng tự trị của Hy lạp có thủ phủ là Sparta). Với dân Hy Lạp, không chỉ mình Leonidas mà tất cả những kẻ vô danh đã ngã xuống đều là những người anh hùng. Dù Sparta đã hiện đại hoá, tôi vẫn nghe đâu đó “tiếng ngày xưa vọng nói về “ của những người chết trận Thermopyles .

“Stranger, go tell the Lakedaimonians that we lie here, obedient to their command”

“Hỡi những kẻ lạ mặt, hãy tới nói với dân xứ Lakedaimonian rằng chúng ta đã ở đây sẵn sàng đợi lệnh” – thơ của Simonides trên mộ những người Sparta đã nằm xuống.

Ấy vậy mà sáng tỉnh dậy, tôi nằm liếm môi và chỉ còn nhớ mình đã mơ về chocolate. Nhiều lúc tôi nghĩ có khi mình nên ngủ nhiều hơn để xoá bớt phần “con” hết sức vật chất. Cũng may, cái phần “người” vẫn thôi thúc tôi “thức dậy để thực hiện giấc mơ” – tới lâu đài Mystras. Từ Sparta, chúng tôi rong “ngựa sắt” khoảng 15 phút, toà thành đổ nát đẹp như trong tranh đã lọt ngay vào tầm ngắm. Đứa nào cũng phải xuýt xoa “Đẹp và lạnh quá”. Ừ nhỉ, tuyết đang rơi trên đỉnh Taygetos. Dưới đế chế Byzantine, nếu Constantinople được coi là hoàng hậu thì Mystras phải là ái phi được sùng ái bậc nhất, nhưng rồi lại bị thất sủng trước Sparti khi Ottoman lên ngôi. Tôi không muốn nói đế chế Ottoman ngốc nghếch, tôi chỉ muốn nói “Nếu là tôi, chẳng đời nào tôi đổi Mystras lấy Sparta xấu hoắc tới rùng mình”.

Khu di tích Mystras nằm trên đỉnh Taygetos, đón chúng tôi sau chiếc cổng vòm đá. Khác hẳn với sự lạnh lẽo của cổng ở Myceane, cổng đá nơi đây được tạo ra bởi trăm nghìn mảnh đá xen kẽ với gạch đỏ và kết dính bởi bùn đất nâu, mang lại vẻ ấm nóng lạ thường. Thực ra thì tôi cũng không dám chắc lắm về chuyện chất kết dính là bùn, biết đâu ẩn sau đó lại là một công thức chế tạo chất liệu vĩ đại. Như thành nhà Hồ ở Việt Nam đó thôi, thầy tôi từng bảo tường thành lấy sự vững chắc từ hỗn hợp mật ong và giấy vụn. Qủa là sự kết hợp phi thường.

Lâu đài ở Mystras được xây dựng từ thế kỉ 13, từng là nơi ở ưa thích của hoàng đế William II của đế chế Byzantine. Nhưng thực sự bây giờ, tôi phải áp dụng trí tưởng tượng của mình triệt để mới có thể trông thấy nó. Tôi ước mình trở lại như thưở lên 5, thì có lẽ điều đó sẽ không hề khó khăn. Với kết cấu y như phần cổng chào, tường thành cùng di tích những phòng ốc cho thấy sự đồ sộ của lâu đài một thời. Chân tường thành kéo dài ôm gần như trọn đỉnh Taygetos, cùng một thành phố thu nhỏ trong nó. Ở khu Metropolis của Mystras, tôi bắt gặp tất tần tật những gì tôi thích: nhà thờ, tu viện, cho tới tàn tích lâu đài. Các khu nhà có kiến trúc giống nhau gồm nhà dành cho thợ thủ công, dành cho các thầy tu và dành cho tôi tớ. Các ông hoàng chỉ việc ngồi 1 chỗ trên đỉnh núi vẫn có hết mọi thứ họ cần cho ăn, ngủ và cầu nguyện. Đúng là Mohamed không tới với núi, thì núi phải tới với Mohamed.

Nhà dành cho các thầy tu hay tu viện (Monastery) có mái vòm lát gạch đỏ hình đài hoa úp ngược. Tường nhà chủ yếu bằng gạch xếp các cách khác nhau. Thông thường gạch xếp ngang đơn giản, tuy nhiên điểm xuyết vài nơi gần cửa sổ là những mảng gạch xếp chéo lạ mắt. Tổng thể kiến trúc Byzantine hiện lên ấm áp lạ lùng, khiến ngày đông tuyết không hề lạnh. Tuy tu viện này bị đóng cửa, tôi và Pierre vẫn trèo cửa sổ lẻn vào xem. Tôi khá háo hức như kẻ khám phá chuyên nghiệp bởi việc gì bị cấm làm cũng hay hơn, Tuy nhiên chỉ sau 1 hồi tôi hết ngay hứng thú, khi thấy 3 tên còn lại lũ lượt vào từ một cửa hậu kín đáo.

Tu viện khá rộng rãi nhưng chỉ đơn sơ vài hàng cột màu đỏ. Trần nhà được trang trí tinh xảo bởi các bức tranh tường hình Zeus và các vị thánh, đã phần nào tróc lớp thời gian. Hình ảnh Zeus thời kì này xem ra rất khổ hạnh đúng theo tinh thần của các tu viện, hy vọng họ không có trò hành xác đáng sợ (như trong Mật mã DaVinci). Các hình ảnh này tôi cũng bắt gặp trong các nhà thờ nơi đây.

Nhà thờ ở Mystras tuy bề ngoài khá giống nhau, nhưng cũng có một nhà thờ khác thường, rất ấn tượng.

Ngay lối vào, chúng tôi bắt gặp ngay một quan tài đá được chạm khắc tỉ mẩn. Ban đầu Alex còn cho rằng đáy là cái bồn tăm thời xưa. Với những bức tranh tường cực cực kì đẹp, bạn dễ dàng bị thôi miên bởi màu xanh và ánh vàng từ mái vòm. Còn dưới sàn nhà, hình một con đại bàng hai đầu kẹp một chiếc vương miện được khảm nổi trên đá hoa cương trắng làm tôi không khỏi tò mò. Đại bàng hai đầu là biểu tượng quyền lực của đế chế Byzantine. Hình ảnh này lấy cảm hứng từ quái vật haga trong truyền thuyết. Hagalà con đại bàng hai đầu, có khả năng bắt được cả bò mộng bằng móng vuốt của mình, chính vì thế Haga tượng trưng cho quyền lực. Ban đầu hình ảnh này chỉ là gia huy, nhưng sau đó nhanh chóng được sử dụng rộng rãi như biểu tượng của vua chúa. Hai đầu đại bàng tượng trưng cho sự hùng mạnh của đế chế ở cả phía Tây và Đông (thời kì đó đế chế phổ rộng cả châu âu và châu á), đồng thời cũng tượng trưng cho sự sức mạnh tinh thần và thể xác. Phải nói biểu tượng này là sự hoà quyện của tự nhiên, là sức mạnh của vũ trụ.

Không chỉ hình ảnh chạm khắc gây tò mò trong tôi, mà tôi còn bị dán mắt vào những lá bùa kì lạ treo dưới chân bàn thờ. Gọi đó là những lá bùa kì thực là không đúng, bởi chúng rất đa dạng, có thể là những bức tranh nhỏ, có thể là những bài thơ, có thể là trang sách nào đó. Người phụ nữ Hy Lạp nói rằng những lá bùa này được mang tới từ những người dân để cầu khấn một điều ước. Nếu họ muốn xây nhà thuận lợi, họ mang tới hình ảnh ngôi nhà, nếu họ muốn cầu con, họ mang tới hình ảnh những đứa trẻ. Và hay nhất là thói quen đó vẫn còn tới ngày nay, dân xứ này vẫn lên núi khi họ cần tới sự giúp đỡ của thánh thần. Tôi đã ước giá mà mình mang theo quyển  Antennas của Balanis, thì tôi sẽ hiến tế ngay. Saru thì ước sẽ có một tấm chồng sau khi tốt nghiệp. Và sự thật là cô nàng sắp cưới, và tôi không trượt Antennas cho dù không để lời cầu nguyện lại đó.

Mystras là mảnh đất tuyệt vời nhất trên xứ Hy Lạp hay ít nhất là tuyệt nhất ở những nơi tôi đã từng qua trên xứ sở thần thánh. Nơi những khoảnh khắc kì diệu nhất xảy ra,  không phải là khi tôi đắm chìm trong lâu đài đổ nát, mà là khi tôi chạm tay vào những bông đào mới nở. Hoa đào xứ lạ đang cười gió đông. Cảm giác như trở về với Việt Nam vào những ngày giáp tết khiến tôi gợn lòng. Năm nay, lần đầu đón Tết xa xứ, tôi đã thấy hoa đào trước cả mùa xuân

Mùa đông Peloponese

Mùa đông Peloponese

Ở Athina chúng tôi thuê được 1 phòng trọ xinh xắn đối diện với Acropolis gồm 1 phòng khách, 1 bếp và 1 phòng ngủ với 3 giường tầng dành cho cả đội. Pierre với tôi luôn đóng vai trò đầu bếp: Pierre nấu pasta, tôi nấu mì châu á cho mọi buổi tối. Cả lũ  thường tụ tập trong phòng khách, nhai  pasta, uống bia Alpha hoặc Mythos, đôi khi là 1 loại rượu có mùihồi đặc trưng của Hy lạp . Tôi vẫn hay chơi chữ “Cứ ăn nhiều pasta thế này, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ trờ thành lũ bastard mất ”. Nhưng rồi chúng tôi vẫn cứ  vui vẻ ăn pasta hàng ngày và cực yêu cái phòng trọ nhỏ. Nơi sáng sáng, tôi bị đánh thức bởi trận chiến ồn ào giành phòng tắm, còn tối tối thì chiến tranh gối ôm xảy ra ở ghế sofa và dĩ nhiên tôi lúc nào cũng là kẻ thua cuộc. Chúng tôi gọi nó là ngôi nhà thứ 2 của mình ở châu âu.

Ban ngày chúng tôi dành toàn bộ thời gian để lang thang các con hẻm ở Athina, hoặc chui tọt vào những bảo tàng to đẹp ở đây. Phải nói rằng bảo tàng Hy lạp là bảo tàng đẹp nhất thé giới, thật đấy. Đôi khi chúng tôi cũng lạc lối ở những gian hàng trong phố mua sắm sầm uất, chỉ bởi vì Pierre muốn mua một cái quần Jeans. Với cái cẳng chân dài hơn Thanh Hằng, cậu ta dễ biến mất ở đâu đó giữa con đường, và chúng tôi phải len lỏi khắp nơi để tìm “người dẫn đường” của mình. Nhưng cũng hay, bởi nhờ Pierre, tôi cũng có cơ hội cá kiếm được vài cái áo trong mùa sale.

Ban đêm chúng tôi về nhà và thường cùng nhau uống bia, nói chuyện hoặc chạy hộc tốc tới rạp chiếu phim để xem bằng được Avatar. Mỗi tối trước khi đi ngủ Pierre lại bắt đầu điệp khúc “What’s the plan for tomorrow?” rồi cả lũ lại nhìn nhau, rồi giả vờ nghiêm trọng và cặm cụi vào netbook. Nhưng thực chất Arnab thì còn mải mê chat với cô bạn gái Mireia ở nhà, Saru bận up ảnh lên Orkut, Alex xem tình hình thời tiết, chỉ có Pierre ôm quyển Lonely planet nghiên cứu, còn tôi ôm gối ngủ gục. Sau vài lần như thế, Pierre quyết định tự đưa ra ý kiến về các địa danh mình thích rồi tự bác lại ý kiến mình luôn. Đó chính là Pierre-Edoird người lập ra cái facebook GForce và update mỗi ngày chỉ để mình mình đọc, người lập chat room để bàn kế hoạch ngay cả khi tất cả đang ngồi trong cùng phòng khách. Cứ nói về Pierre chúng tôi có thể nói cả ngày, cậu ta như một giai thoại không bao giờ dứt. Cậu ta mê Santorini, muốn tới Delphi, nghĩ về đảo Rhott, nhưng cuối cùng chốt lại “Chúng ta sẽ khám phá mùa đông Peloponese”

Sau khi đảo quanh gần như tất cả các hàng thuê xe ôtô, Pierre chọn ngay 1 em Ford màu đen cho cả lũ lên đường, khỏi phải nói tôi khóc hết nước mắt thế nào khi phải nghĩ tới chuyện đi ôtô đường trường. Nhưng với vài viên thuốc chống say xe, tôi cũng tự an ủi mình “Đây là cơ hội có một trong đời để thực sự ngắm Hy Lạp” và quả thật đó không bao giờ là quyết định sai lầm.

Những đền đài bỏ hoang

Chúng tôi bỏ lại Athina sầm uất vào một ngày lạnh cắt da. Thời tiết dường như thay đổitheo giờ, khi mà mới sáng sớm nắng còn về trên Acropolis, gió thổi bay cả trí tưởng tượng của tôi, đến trưa mưa sầm sập gõ cửa. Ngày hôm sau tôi đã run cầm cập trong vài tầng áo khoác khi đón nhận từng đợt tuyết nhẹ cuối đông ở Mystras, nhưng rồi bỗng giật mình khi thấy mình đang quấn sóc áo pull vui đùa trên bờ biển Aegean trong một chiều nắng nhẹ. Tôi đã ngắm tuyết phủ đỉnh Taygetos, tôi đã ngắm gió thổi bờ lau, tôi thấy hoa vàng mấy độ Myceane, rồi nhìn đàn cá bơi lội dưới làn nước trong vắt trên con thuyền nhỏ tới Poros. Tôi đã nhìn, đã thấy và đã nghe cả tâm hồn Hy lạp qua tiếng Bouzouki reo rắt vang lên trên ôtô nhỏ của chúng tôi. Hy lạp quả là thần thánh.

Nắng về trên Acropolis                                       Con đường ngoắn nghèo dọc theo triền núi

Tuyết phủ đỉnh Taygetos                                               Tắm biển ở Patras

Tiếng Bouzouki rất ảm ánh, nó đi vào cả giấc mơ tôi khi tôi ngủ vùi trên bờ vai 2 đứa bạn trong suốt hành trình. Tôi đổ bởi tác dụng của thuốc say xe, mặc dù Alex khăng khăng bảo rằng tôi lấy cớ. Arnab thì bảo “Con gái thật nhàm chán, không biết làm gì ngoài ngủ thôi à” Bởi ngay cả Saru cũng ngủ gục trong khi cô nàng không hề uống thuốc. Nhưng có đôi lần mở mắt ra tôi thấy những điều kì diệu. Tôi thấy ôtô lao đi giữa màn mưa tháng giêng, xẻ dọc những vườn cam đỏ rực như ngày xưa Mose chia đôi biển tìm con đường tới vùng đất hứa. Những vườn cam căng tràn sức sống như mời gọi, nhưng tôi chẳng muốn thử chúng tí nào, sau khi đã ăn phải một quả cam chua chát và đắng  ngoét trên 1 con hẻm  ở Athina. Có lẽ tôi phải đặt tên cho nó là “Đường cam rực rỡ” , bởi cái rực rõ ánh xanh, ánh cam như làm bạn vui vẻ tới bất tận. Kế sau những con “đường cam rưc rỡ” là những “đường bông tuyết” bởi những lau sậy trắng tinh rồi những con đường ngoắn nghèo dọc theo triền núi. Một bên núi đứng sừng sững, một bên biển gọi bao la. Tôi không nghĩ có bao giờ mình có thể quên được những khoảnh khắc sống động như thế.

Ôtô cứ lao đi một mình như chỉ mình chúng tôi làm chủ cả đất trời này. Tôi là chủ nhân của đỉnh núi tuyết kia, của biển xanh này, của cả bầu trời ảm đạm. Những  xúc cảm dấy lên trong tôi, khi thì nghẹn lời trước những điều kì vĩ, khi thì hứng khởi hồi hộp khi ôtô lao lên đỉnh núi, khi sợ sệt lúc ôtô quá đà lao ầm ầm vào bức vách trước mặt và quả thật chúng tôi chỉ dừng lại trước nó 30 cm. Tôi vẫn thường nói Pierre là kẻ lái xe thiên tài khi cho tôi đi Disney land miễn phí thế này, nhưng cũng là kẻ ngông cực độ khi không hề phác thảo trước kế hoạch cho mỗi chuyến đi. Chúng tôi chỉ cứ đi, dọc theo những con đường zig zag mà không hề biết nó sẽ tới đâu. Không nhà trọ đặt trước, chúng tôi dừng chân ở bất kì nơi nào có hứng thú. Ngẫu hứng một cách rất Hy Lạp.

Có khi là chỉ là Epidavros bé nhỏ bởi Pierre muốn chiêm ngưỡng nhà hát cổ lớn nhất của Hy lạp. Nhà hát có dạng tròn, ở chính giữa là sân khấu, bao xung quanh là hàng ghế bậc thang dành cho khán giả, nghe Pierre nói thì nhà hát có thể chứa tới hàng chục nghìn người. Hàng ghế này được làm bằng đá hoàn toàn, và được chia thành 2 mức rõ rệt, bởi ban đầu chỉ có khoảng 34 hàng nhưng sau này đã được mở rộng thêm 21 hàng nữa. Đây thực sự là nơi giao lưu văn hoá thời xưa không chỉ giữa con người với con người mà còn giữa con người và chúa trời.

Đặc biệt với thiết kế hoàn hảo, ở đây người biểu diễn chỉ cần đứng ở bục chính giữa sẫn khấu,  không cần sử dụng mic hay amplifier mà âm thanh vẫn có thể bao trùm toàn bộ nhà hát. Lũ chúng tôi đã tranh nhau thử làm diễn giả, còn bạn bè thì chạy lên hàng ghế cao nhất để nghe. Thậm chí Pierre (ngay cả tôi) còn bắt đầu cái giọng “opera trữ trình” của mình “ồ ố ô ố ồ”, giọng ca vang khắp, đập vào những hàng ghế và dội lại, nghe như một ca sĩ chuyên nghiệp. Ngày nay, hàng năm vẫn có những buổi biểu diễn tại nhà hát này, nhưng tôi không tưởng tượng được họ sẽ soát vé thế nào khi mà cửa ra vào đã bị tàn phá.

Hay có thể đó là Korinthos – thành phố cổ mang tên hậu duệ của Heliot. Với thế tựa lưng vào núi, tôi khá sững sờ khi biết con đường chính ở thành cổ  từng nối ra  bến cảng sầm uất trên Aegean xanh ngọc. Sống tới hàng nghìn năm tuổi, Korinthos thu vào mình tinh hoa của các đế chế lụi tàn , trong đó dấu ấn rõ nét nhất còn lại là của thời kì Roman. Từ các hiện vật còn lại trong bảo tàng cho tới các con đường hay tàn tích phòng họp (forum), dấu tích Roman hiện lên trên các bức tranh tường hay những mosaic.

Đài phun nước Roman                   Dấu tích  mosaic Roman

Ngay trung tâm thành cổ, nơi từng có những con suối chảy qua, 3 đài phun nước to lớn hiện lên để khơi nguồn cảm xúc cho con người. Đài phun nước Roman mang đến xúc cảm thơ ca, thể hiện sự to lớn hoành tráng nhất. Tôi nghe loáng thoáng từ một cô giáo người Hy lạp giảng cho học sinh thì đài phun nước này áp đảo hẳn đài phun nước Byzantine bởi số lượng phòng lên tới con số 7. Tôi đã từng năm mơ thấy hàng nghìn năm trước, những thi sĩ mặc áo tonga đang vươn tay hứng từng giọt thơ từ đài phun nước mong kiếm tìm mạch nguồn cảm xúc cho những áng văn bất hủ. Rồi họ nhìn sang tôi lắc đầu “cô không bao giờ có thể là một nàng thơ” hehe.

Hay là một nơi nào đó tôi chẳng còn nhớ rõ tên chỉ bởi Lonely planet víêt rằng nơi đây có một nhà tắm cổ mà khi chúng tôi đến đã hôi rình như hàng tấn rác thoát ra từ linh hồn kì cựu trong Sprited away. Cả lũ chạy nước rút để thoát khỏi cảnh nôn mửa không tránh khỏi nếu ở đó vài phút.

“Đường phố buồn, một đường phố buồn
Đường phố buồn, mọi người đi vắng
Trong kinh đô tiêu điều dấu ngựa hồng
Đường im lìm”

“Có những con đường” — Trịnh Công Sơn —

Đường đi dọc theo miền Nam Hy Lạp mở ra cả thế giới cổ xưa. Những đền đài tưởng chừng bỏ hoang không hề hoang phế, mang vẻ đẹp mặn mà quá khứ – thứ mà dường như Athina đã đánh rơi ngoài Aegean.