Năm của Istanbul

Năm 2012, năm đại họa có thể xảy ra với toàn thế giới, còn 9 ngày nữa là diệt vong.

IMG_6064IMG_6223

Tôi quanh quẩn ở Paris nghĩ ngợi về những điều cần làm trước ngày tận thế. Danh sách dài dằng dặng của tôi cũng được hoàn thành đôi phần, cái nào đáng được tuyên dương nhất nhỉ?Loay hoay và loay hoay. Khi  Holywood mang điệp vụ CIA qua giải cứu con tim ở Istanbul, rồi lôi anh 007 sang đó dìm chết lãng nhách dưới biển Marmara, thì tôi biết mình đã làm gì rồi. Khi Syrie từ từ mang bom ra nổ ở biên giới Thổ Nhĩ Kì gây chú ý từ người hàng xóm, thì tôi sung sướng hét lên ” Ái chà, mình đã từng đến Istanbul, thật kì diệu làm sao”. Năm nay Istanbul được chiếu đèn sáng rực, một mình độc diễn sân khấu, thu hút con mắt của thế giới.

Trước khi tới Istanbul, tôi chẳng biết gì nhiều về thành phố này, cậy có tour guide bản địa. Ai ngờ khi mình tới, bạn bận không đưa đi chơi được. Tôi đành lò dò tự tìm đường. Đêm trước, Gozde mang máy tính ra, tra google map, google earth rồi vẽ bản đồ bằng tay cho tôi đi hết những điểm di tích lịch sử. “Nhiều lắm, đi được bao nhiêu thì đi nhé” ” ừ ừ”. Chiều về, tôi cười trắng xóa ” Tao đi hết rồi” hớn hở như khoe được phiếu bé ngoan. Gozde cười thích thú, mắt ánh lên ” Đùa à?mày tài thật. Hôm nay tao nói với tụi cùng phòng là đã hướng dẫn mày đi như thế, ai cũng bảo mày sẽ lạc”. Tôi hếch mũi kiêu hãnh, không hề. Lúc sau gặp Selva, Gozde lại hãnh diện ” Mày tin được không nó đi hết vùng lịch sử của Istanbul rồi đấy”. Selva trợn tròng mắt. Ôi, cưỡi ngựa xem hoa là môn thể thao yêu thích của tôi mà.

IMG_6056IMG_6053

Cuộc sống sáng ở Istanbul

8h sáng, chuông báo thức vang lên từ mọi góc, Gozde và Selva tỉnh dậy, trang trí mặt mày, nước hoa thơm phức rồi gõ guốc lên đường. Tôi với con mèo ườn như nhau, 9h mới tỉnh nhìn nắng chói chang ngoài cửa sổ mà ngao ngán. “Lại 37 độ rồi” tôi quay sang than với con mèo, còn nó thì tỉnh bơ trốn vào cái ổ của mình. Mặc xác nó, tôi hí hửng váy quây, một chút the Beat, che chắn thêm cái denim, rồi nhào ra đường. Đến lúc phải khám phá cái nơi thú vị này rồi. Ayran cho một ngày mới năng động, thêm cái bánh nhân phô mai chết tiệt, ăn ngán ngắc ngư, tôi tí thì phá hỏng ngày đầu ra quân. 10ph sau thì tôi phá nó tan hẳn, khi điên tiết lên ở  metro Taskim, lúc nhìn từng token bị nuốt ngọt lịm như mía chui vào máy xay mà không qua nổi cửa. Tôi kêu gào, rống hét một hồi cho hả cơn giận rồi mới an tâm xuống metro đi về phía biển.

IMG_6067IMG_6119

Tokapi palace và Hagia Sophia

Vượt qua cây cầu Galata là tôi đã tạm biệt bên châu âu đổi mới để về với thế giới cổ xưa mang đậm dấu ấn Hồi giáo. Đế chế Byzantine đã rót biết bao vàng bạc châu báu để xây dựng nên cả một thành phố sắc nét. Tôi nhảy tram xuống, tiến vào Topkapi palace. “E hèm, thứ 3, đóng cửa cả ngày”, tôi giận dỗi, ngày gì mà xui quá. Trời nắng, mệt, thấy cung điện có khoảng cây xanh muốn nhảy vào mà cũng không được. Cứ nghĩ nếu được hạ lưng xuống gốc cây kia thì chắc mình ngủ khì khì cả ngày mất. Thôi thì, Ayasofya (Hagia Sophia) thẳng tiến. Hagia Sophia vốn là thánh đường chính thống, sau thành nhà thờ hồi giáo. Với màu hồng nhạt nhẹ nhàng, mái vòm màu bạc, 4 tháp cao, Hagia sophia khẳng định vị trí vững chắc của mình trong nghệ thuật kiến trúc Byzantine. Cả 1000 năm, nơi đây giữ chức danh thánh đường lớn nhất thế giới, cho tới khi Seville ra đời. Bên trong Hagia Sophia có phần giản đơn chỉ là một căn phòng lớn, với những chùm đèn lộng lẫy, mỗi bóng đèn mang dáng hình như cái núm vú giả thật vui mắt. Tôi đi vòng xung quanh rồi theo con đường tối nhỏ lên tầng 2. Lối cầu thang man mát, tôi tối, làm tôi cứ nghĩ tới giáo phái thích tự hành xác của Dan Brown.

IMG_6085IMG_6092

Rực rỡ Hagia Sophia

Tầng hai không có gì, chỉ có vài bức tranh, và khoảng không rộng mở để nhìn xuống tầng 1. Mọi người đang chen chúc dưới đó, họ đang cầu nguyện gì nhỉ?họ có hạnh phúc không?họ sướng vui hay đau khổ?tất cả chỉ là cảm nhận. Họ đang kiếm tìm may mắn sao?khi xếp hàng để ướm ngón tay mình vào một hốc diệu kì trên cây cột đặc biệt. Tôi cũng bon chen, lau tới bóng cái lỗ, mong năm nay may mắn mỉm cười. Chỉ biết sau đó tôi đã mất tiền nhiều lần vô lý,  ốm 2 trận kịch liệt, nhận vô số lời chỉ trích nhiếc móc từ thầy cô.

IMG_6111IMG_6113

Tầng 2 Hagia Sophia với sự may mắn kiếm tìm

Trưa lên cao quá đỉnh cây cọ rồi. Biển ngay sát mà không có lấy một ngọn gió nào. Người tôi nhớm nhúa thứ mồ hôi không loãng. Tôi lớ ngớ đi sang Sultanahmet Cami (Blue Mosque) trú nóng thì nghe thấy tiếng chuông vang lên từ các Miranet. Người có đạo kéo tới, người vô đạo kéo ra. “Đến giờ cầu nguyện rồi, đợi tới 1h quay lại nhé kưng”, ôi nóng cái đầu thật đấy. Tôi leo lên một căn phòng nhỏ, nơi có diễn thuyết về đạo hồi. Không phải là họ đang tẩy não hay truyền đạo gì đâu, chỉ là giới thiệu nho nhỏ về đạo hồi, cũng thật thú vị, và quan trọng hơn là tôi có một cái ghế mây để ngủ. Khi buổi lễ kết thúc, thì tôi cũng kịp phục hồi được vài phần công lực để vào chơi Blue Mosque.

IMG_6128IMG_6137

Kì vĩ Blue Mosque

Blue Mosque có màu xanh xám, với 6 tháp cao, và vô số mái vòm nhỏ, vừa là nơi cầu nguyện, vừa là mộ của người sinh ra nó. Từ xa, Blue mosque là điểm nhất quan trọng nhất của Istanbul, khiến người đi trên biển đều nhận được từ xa. Bên trong Blue Mosque đẹp hơn ở Hagia bởi trần nhà cũng được điểm tô và những tấm thảm dài vô tận, nhưng không khí linh thiêng ấm cùng và dàn đèn lại không bằng. Mỗi khách đều được phát một tấm khăn xanh để quấn trên quấn dưới, sao cho đủ kín đáo mới được vào diện kiến đức Mohamed. Tôi cũng ngồi xuống giữa những người Hồi giáo để cảm nhận tín ngưỡng của họ. Tôi thích tất cả các tín ngưỡng, cứ có niềm tin là có hạnh phúc. Tôi chỉ không thích sự phân biệt nam nữ. Nữ bị lùa vào riêng 1 phòng để cầu nguyện. Nam được rửa tay ở ngay bên hông nhà thờ, nữ thì phải lùi ra sau. Có lí do gì mà nữ phải chịu đối xử như thế khi cả triệu năm nay họ cân nín phục tùng, xây đắp cho cái xã hội này.

IMG_6145IMG_6147

Phụ nữ thế giới và đạo hồi

Họ phải phản kháng chứ?làm giặc, làm phù thủy hay làm ác tinh như Medusa cũng được. Đi vào lịch sử như kẻ ác dã man, ai nhìn vào cái đầu rắn của mụ cũng bị hóa đá, Medusa là hiện thân của sự điên loạn và dục vọng. Nằm sâu trong lòng Yerebatan Sarnıcı (Basilica Cistern), 2 cái đầu rắn Medusa bị chổng ngược, chổng ngang làm bệ đỡ cho 2 cây cột trong nhà nguyện. Mọi người bảo thế là đáng kiếp mụ đàn bà ác độc, có người lại bảo bà ta bị oan. Chỉ Cistern mới biết bí mật trong lòng nó. Nhà nguyện Cistern có sự ma quái khó hiểu. Xây dựng sâu trong lòng đất, mang tới cái mát lạnh tới rợn gáy cho người thăm. Cả nhà nguyện giống như một hồ nước rộng lớn, giống nhà máy sản xuất nước thì đúng hơn. Các lối đi nhỏ ướp nhèm nhẹm và hoạt loạt cột chống chen chúc như rừng tre. Tôi thấy khoái nơi này nhất Istanbul, bởi sự mát mẻ giữa ngày nắng, và hơn thế nữa bởi những gì bị chôn cất ở đây thật đáng tò mò.

IMG_6188IMG_6170

Medusa và bên trong Cistern

IMG_6157IMG_6125

Sau lưng và đối diện Blue Mosque

Rời Cistern là điều khổ tâm nhất với con người thích hưởng thụ. Rong mình trên những con đường không cây, không bóng mát, dưới cái nắng thiêu đốt, đầu tôi muốn nổ tung. Tôi lượn qua lượn lại Aya İrini (Hagia Irene) và mấy nhà tắm kiểu Thổ mà không vào được. Tôi mệt, tôi khát, tôi nóng bực, tôi muốn vứt quách đôi xăng đan đế xuồng đang hành hạ bàn chân khổng lồ của mình. Lượn quanh mấy bazzar hương liệu nhỏ nhỏ ở gần Blue mosque không mua được gì, tôi đành dấn thân tới Kapalı Çarşı (Grand bazaar).

IMG_6213IMG_6216

Cái Bazaar này đã hân hạnh được anh James Bond lao xe máy xuống, sụt cả trần, vỡ cả gạchIMG_6211 lát. Nếu không có anh thì bazaar này cũng đủ lộn xộn rồi bởi đa sắc mặt hàng và vô số kẻ dẻo mỏ. Tôi cân nhắc mãi cuối cùng vẫn bị một anh lừa mua 2 cái khăn lụa cho mẹ và chị Thảo, anh khác thì lừa 1 đống kẹo delights lúc thử thì ngon mà khi về mở ra toàn thấy đường cục. Tôi đến bị tiểu đường mất thôi, nhưng thôi không sao tôi cũng tha thứ cho anh, vì tôi đã tán được anh khác bán cho đôi giày mầu hồng nhạt, xỏ dây cói thật dễ thương với cái giá đáng yêu vô cùng. Vậy là tôi có thể tung tăng tung tẩy đi khắp Bazaar ngó nghiêng thứ này thứ kia. Tôi thích cuộc sống ở chợ, nó phản ánh được một phần xã hội dung thứ nó. Có vài cuốn sách có ưu ái dành riêng chỉ viết về Grand Bazaar và cuộc sống lam lũ của tiểu thương nơi đây, rất thú vị. Uống một ly trà Thổ, ăn một chút hạt khô, rồi họ uốn lưỡi vài lần để chèo kéo, thế là khu chợ cựa mình. Cái chợ lớn này cũng như chợ ở Cairo, hay chợ Đồng Xuân tức là chỉ bán cho khách du lịch và người lao động. Tầng lớp cao như Godze hay em gái cô ấy thì ở Istanbul tới 10 năm cũng không biết Grand Bazaar là cái gì? là một cái nồi súp thập cẩm thú vị chứ còn gì nữa.

IMG_6210IMG_6212

IMG_6217IMG_6209

Nồi súp ấy giữ chân tôi cũng tới vài giờ. Ngoảnh đi ngoảnh lại đã tới lúc hẹn với Godze, tôi chạy quýnh lên, lao như bay qua khu cổ tích tới biển. Hải âu đang tung bay lên từ mọi hướng và con người cũng đổ xa từ mọi nơi. Tan tầm rồi, hải cảng sầm uất quá, tôi biết đi đâu mà bắt tram về nhà đây. Tôi tìm toán loạn một hồi, cuối cùng đi theo tiếng con tim. Đi một lúc thì phát hiện ra tim đang dẫn tôi về phía châu Á Anatolian, hoàn toàn ngược với nhà Godze. Tim với cật, nằm trong lồng ngực cũng không yên. Tôi lại 3 chân, 4 cẳng lao lại về chỗ cũ. Điện thoại không có, rõ ràng là tôi đang bị lạc đấy, lạc 100%. Gió thổi vị mặn mòi, tôi hít lấy hít để, thấy tỉnh táo thông minh hẳn ra, xác định lại phương hướng. Như có thần thánh phụ trợ, tôi tìm được đúng tram, leo lên và hạ xuống Taksim an toàn, tỉnh bơ. ” Tao đã đi hết những nơi mày bảo, mua được đủ thứ, lại còn không lạc đường” tôi huyênh hoang. Đó là lí do Godze dẫn tôi đến Ortakoy để thưởng cho vài con sò và một cốc bia ở Bebek nữa chứ. Hạnh phúc gì hơn khi khát được uống bia, khi lạc gặp bạn, khi nóng có gió, và khi học ngoan được thầy thưởng một chuyến Thổ Nhĩ Kì tuyệt vời tới nhường này.

Nâng thêm vài ly nữa cho cuộc đời tự do, ngập tràn thú vị này nhé, zô zô. Ai có bia thì uống giùm đi, tôi đau họng, mất giọng rồi.

Bầu trời sụp đổ

Cái gì sụp đổ?bầu trời sụp đổ?thật không?bầu trời nào?sụp ở đâu?tại sao sụp?

Ờ, chẳng có gì sụp cả, có chỉ có hệ thống rạp chiếu phim toàn thế giới đang sụp nát trước cái sôi sùng sục, nóng hừng hực của bộ phim mới nhất về điệp viên 007. Như mọi khi mọi người háo hức tới rạp để ngắm các Bond girls xinh đẹp ngất ngây cùng anh James cơ bắp, góc cạnh, men lì trong bộ veste Tom Ford. Tuyệt phẩm của Sam Mendes lần này cũng không làm mọi người thất vọng, ít nhất về 2 mục đích trên, ngoài ra còn được thêm cái khoái cảm đắm chìm trong giai điệu đẹp và những khuôn hình đầy chất nghệ. Bond chạy trong đêm, đằng sau tử địa bốc cháy, bóng người bé nhỏ lạc trong ma trận lửa khiến người xem thảng thốt, nghẹn thở, sợ hãi cũng như cảm giác khắc khoải khi chàng rơi từ từ vào lòng biển Marmara, giọng Adele vang lên da diết ¨Hãy để bầu trời sụp đổ, khi mọi thứ vỡ tan¨. Bàn tay thượng đế kéo chàng sâu vào lòng biển, tôi cũng chết chìm theo trong chậu Tưởng kí.

Ở Istanbul, cũng từng có những thứ sụp đổ, người ta gọi là sự sụp đổ của Constantinople. Constantinople được đế chế Byzantine kiến thiết khoảng năm 300 trước công nguyên, rồi bị chinh phục bởi Ottoman năm 1453, sau khi đế chế này đã ăn gọn phần quan trọng nhất của Thổ Nhĩ Kì – Anatolian. Đế chế Ottoman hùng mạnh rồi phải ra đi, khi nước Thổ thống nhất được dựng nên bởi Atartuk năm 1923. Đế chế sụp đổ, sự suy tàn của những Pasha ( các vị tướng), các dinh thự đổ nát, cuộc sống và xã hội náo động. Đó là khi Orhan Parmuk bắt đầu có nhận thức, để vẽ lại bức tranh thành phố của ông trong ¨Istanbul hồi ức một thành phố¨. Ngày đông, tuyết trắng, con người trong những tấm áo khoác đen đi lại uể oải như hồn ma, vật vờ trên đường phố, hơi thở lạnh buốt, khói xám, tàu đen, dòng nước trắng, Istanbul đen và trắng của một thời. Lúc đó, họ mở miệng nói về Istanbul là nói về Huzun, từ để lột tả thứ còn cao hơn cả nỗi buồn.

Khi nói về sự sụp đổ, người ta nghĩ về tàn tích, vài người khác nghĩ về cái mới manh nha. Khi buồn, người ta thường gặm nhấm quá khứ, vài người đi tìm những nhánh cỏ xanh mới mọc. Vào thời kì hỗn loạn, những đứa bé ở Istanbul hay được cha mẹ cho tới Bosphorus hóng gió, nhìn ngắm sự sinh sôi trên dòng nước. Với Orhan thì khi thành phố tàn lụi, tủi nhục, Bosphorus là hiện thân của sự hoan lạc. Bosphorus là eo biển nơi ngày xưa các Pasha thi nhau tới xây dựng dinh thự mùa hè. Những Yali màu sắc đó giờ còn vài chiếc, xen kẽ nhà dân, hoặc nằm cạnh khu trường quân sự, mà đi tàu ở vịnh Bosphorus đều lướt qua. Chuyến tàu chỉ 1 giờ dọc biển mà Gozde bảo tôi là mày phải đi, phải đi, để thấy đôi bờ lục địa. Sự đối mặt của 2 châu lục thể hiện rõ nhất trong sự tồn tại của 2 pháo đài ở nơi hẹp nhất của vịnh: Rumeli hisari ở châu âu và Anatolian hisari phía châu Á.

Rumeli được Sultan Memed II dưng nên ở vị trí quân sự chiến lược, nhằm kiểm soát sự thông thường giữa biển Đen và biển Marmara, để chặn sự trốn chạy của quân Byzantine, uy hiếp đội bạn phía Anatolian, và là bàn đạp để chiếm toàn bộ Costantinople. Pháo đài Rumeli rất kiên cố, với 3 tòa tháp lớn mang tên các Pasha, cùng những tòa bé, được trang bị súng hỏa tiễn khắp tường thành. Gozde bảo ¨Rumeli là nơi tao đến mỗi khi mệt mỏi chán chường,  kì lạ là nó luôn mang lại nguồn cảm hứng cho tao¨,vì thế mà bất chấp nắng nóng tôi phải dẫn xác đến đây. Lao lên cái xe bus bất kì từ Ortakoy, với niềm tin bất diệt xe nào cũng dẫn tới Rumeli, tôi cũng may mắn đến được tòa thành. Xây ở địa thế cao, giáp mặt với biển, nên khi leo đến ngọn tháp cao nhất của thành, thở hồng hộc nhưng thích thú khi gió thổi bay hết mồ hôi rịn gáy. Trời sáng, nắng chói lòa từng mảng biển, tàu lướt đi nhẹ nhàng, yên bình về trên tàn tích chiến tranh.

Chiều buông xuống là khi hò hẹn bắt đầu. Tôi quay đầu về lại Beşiktaş, chờ Gozde. Hai đứa đi dọc biển, qua Beşiktaş Dolmabahçe Palace, giờ đã là khách sạn nên chẳng được vào. Rồi đi bộ thêm lúc nữa dưới những hàng cây xanh, dưới những khu vườn rợp mát, xem tắc đường khói bụi thì cũng tới được Ortakoy. Ortakoy với các khu nhà màu sắc xanh đỏ tím vàng vui mắt, vốn là làng chài. Người ta bảo để thủy thủ đi xa nhận ra nhà mình mà họ mới sơn nhà vui nhộn như thế. Giờ Ortakoy là khu ăn uống, mua sắm vỉa hè, với các quầy hàng dựng san sát nhau, vị biển tanh tanh từ món hàu nhân cơm đen óng thơm mùi chanh vàng, xếp cạnh mực,cá, tôm chiên giòn ăn kém sốt ngọt. Waffle thơm kem sữa đầy nhóc hoa quả cạnh tranh với món khoai tây nghiền trộn, ngon tuyệt. Mỗi đứa làm một đĩa hàu rồi ra ghế đá ngồi uống bia. Khi Selva tới cùng bánh mì kẹp ruột già Kokorek thơm đượm xả thì tôi tự hứa sẽ phải phi tới Ortakoy vài lần nữa, hoặc tới Bebek. Bebek nghĩa là đứa trẻ theo tiếng thổ, là nơi tụ tập của thanh niên, nơi thưởng thức cuộc sống đêm ở Istanbul. Giữa những quán bar xập xình, các cô gái sành điệu của tôi chọn quán xịn nhất, đẹp nhất, long lanh nhất, để nhìn thấy toàn vịnh Bosphorus. Nhà cửa bên phía châu Á sáng đèn, trăng to tròn treo trên đỉnh bầu trời, biển gợn lên uống lấy mọi nguồn sáng vào sự u tối vĩnh hằng. Chúng tôi uống Mojito, uống Effes, ngả nghiêng trong gió hè với những chuyện nhảm về các chuyến đi. Trên taxi từ Bebek trở lại Nisantasi nhà của Gozde, cô ấy bỗng giật nảy lên ¨Phải rồi, phải rồi, mày phải đi xem Nisantasi nữa¨. Gozde vẫn hay điên điên thế.

Nisantasi thì có gì?sau này đọc lại sách của Orhan thì hóa ra Nisantasi chẳng phải trò đùa, đó mới là sự bắt đầu lại của thành phố. Khi Ottoman tan rã, cuộc sống theo chuyến tram xình xịch thoát khỏi vùng châu âu già cỗi chạy qua cầu Galata rồi đậu lại ở Nisantasi. Nisantasi nghĩa là bia đá, bởi những các Sultan cho dựng các bia đá ở phía đồi ở đây làm nơi săn bắn. Sau này khi thích Tây phương hơn, các Sultan chuyển cả cung điện từ Topkapi tới Bekistas.  Ở Nisantasi vẫn còn nhiều ngôi nhà cổ xưa, lẫn trong nhịp sống mới, nơi các cửa hàng như Louis Vuiton mọc lên khắp nơi, có lẽ giống như sự chuyển hướng của Hà nội lui về Cầu Giấy hay khu công nghiệp Hòa Lạc. Tôi long nhong nửa ngày ở Nisantasi thấy không thấy gì thú vị lắm ngoài những hàng bánh vòng Kebek. Tôi ra siêu thị, vác 2 lít nước khoáng về, để lại lời nhắn cho các cô gái ” Này, cuối cùng tao cũng nhớ mua nước cho chúng mày. Cảm ơn nhiều nhé, tao sẽ nhớ mày, cô em gái sexy bitch và con mèo ngốc ngếch lắm đấy. Nhớ chơi với nó nhiều vì bây giờ nó đang nghịch chân tao, có vẻ thiếu thốn tình cảm”. Rồi tôi kéo cái valy đỏ đi, hòa vào dòng người Nisantasi, gọi một chiếc taxi ” Đưa tôi tới Taksim”.

Sự kết thúc nên ở chính nơi bắt đầu.

Istanbul, dưới cánh hải âu

Chỉ hải âu mới biết biển mênh mông nhường nào…

Trước khi đi Istanbul, chị Thảo vứt tôi quyển sách ¨Istanbul hồi ức một thành phố¨, dày tầm 500 trang, rất thú vị, khó đọc khó hiểu.  Sách lan man, đọc thấy thênh thang chẳng hiểu rốt cuộc Istanbul là gì nhỉ? Nói lăng nhăng rằng Istanbul cũng như mọi đô thị khác, là một thực thể sống, cũng chuyển mình, cũng lớn lên, rồi già cỗi. Istanbul hay đô thị đều sống, thở, với mạch đập giao thông liên hồi, nó nhồm nhoàm hàng hóa, cơ thể phình to thu nhỏ, lòng nhiều lúc trống rỗng, đôi khi chật hẹp. Tôi đọc được tầm 1/10 sách thì đã phải lên máy bay. Trong đầu chỉ còn có ¨Istanbul, gia đình đa hệ, Pasha, biển, Bosphorous, thành phố đen và trắng¨. Đi về, sách vẫn 1/10, đầu lỉnh kỉnh.

Đặt chân tới Istanbul lúc nửa đêm, thấy nó thở gấp gáp như người bệnh thiếu oxy, mệt mỏi. Đèn đường sáng trưng, đèn xe sáng loáng, bóng người chập choạng, liên mạch liên hồi. Tôi không thấy Istanbul giản đơn chỉ đen và trắng. Istanbul đa sắc, nhộn nhạo. Nằm giữa 2 lục địa Âu Á, thành phố này gồm 3 phần đất liền tách biệt: phần Tây Âu, Đông Âu và phần châu Á hay vẫn gọi là Anatolian, ngoài ra còn vô số đảo lớn bé, như hệ thống 7 đảo Hoàng Tử.

Lên tàu từ Beşiktaş chừng 45ph dập dềnh thì cập đảo lớn nhất Buyukada. Đảo che phủ phần lớn bởi đồi thông xanh rì rào. Trên cao có tiếng nhảy cầu, phía dưới có tiếng trẻ em cười đùa í ới. Lên đảo Hoàng tử, cô gái nào cũng mua vòng hoa đội đầu làm công chúa duyên dáng. Thuê xe đạp tôi chạy lòng vòng lên trên xuống dưới, vào rừng, ghé biển, mát thấu tim gan. Người cho thuê xe bảo ¨Mày Việt Nam nên tao mới cho thuê giá 3e 1 ngày đấy¨, tôi hí hửng, dân ở đây có vẻ thích người Việt, cũng đưa tay lên pằng pằng kiểu Rambo, họ khoái chí lắm. Sau mới biết đó là giá thuê chung của cả đảo. Đạp lên xuống, lượn vòng quanh, thưởng thức dưa hấu và biển thì mệt nhoài, ngủ một giấc trên tàu trong tiếng hát của cô bé người thổ, thật trong và khỏe, cuối cùng tôi bò về đất liền mà chẳng tìm được chàng hoàng tử nào.

 

Đất liền, biển vẫn ở khắp nơi, biển chia rẽ các vùng đất, khiến 1 thành phố mà tưởng là 3. Biển Marmare xanh ngắt, sóng sánh, ngửi chẳng thấy vị mặn mòi lại cứ ngỡ là sông dài hun hút trong phố. Tháng 7, nắng như đổ lửa, mồ hôi rịn kẽ tay, thấy nước vây quanh tứ bề chỉ thèm lao xuống, nhưng nước sâu như lòng người lại chẳng dám bơi. Bãi biển chẳng thấy, chỉ đầy những bến cảng chen chúc những người, xe ngô luộc, và hải âu. Hải âu nhiều vô kể, tung cánh trong ánh chiều đẹp ngỡ ngàng. Nhìn những cánh chim nhỏ bé trên bầu trời thênh thênh, mặt nước dềnh dàng thuyền xe tấp nập, mới thấy hết cái to lớn của Istanbul.

Ở Istanbul, xe bus có, metro có, tram có mà lằng nhằng. Hoặc bạn phải mua một tấm card, nạp tiền vào dùng dần, hoặc mỗi lần lại phải mua 1 token giá 1e, đi được đúng 1 lần duy nhất. Metro chỉ có 2 đường, chẳng thể đưa tới hết những nơi mình muốn. Nhảy khỏi metro lên tram đi dọc thành phố thì đã hơn nhiều. Nhưng phương tiện nhanh nhất vẫn là các mini bus, vốn là các xe 6-8 chỗ, có thể dừng ở bất kì chỗ nào mình muốn, nhanh gọn nhẹ, giá cả phải chăng từ 2.5e – 5e. Nhiều khi cả xe chỉ mình mình và bác tài, ghế bóc xờn, cửa xe hỏng, gió nóng thổi táp vào mặt nhễ nhại. Bên khu Anatolian, thì mini bus đúng là loại hình lí tưởng, chạy dọc biển, hay lên lòng chợ.

Nói tới chợ, lại nghĩ tới Bazaar. Bazaar thường là các khu mua bán sầm uất, có thể bán tạp bí mù như Grand Bazaar hay bán 1 sản phẩm như Fish Bazaar, Flower Bazaar. Đi ăn tối ở các bazaar là một nét ẩm thực ở Istanbul. Gozde dẫn tôi vào Flower Bazaar nhưng giờ chẳng còn thấy bán hoa. Gozde kể xưa kia đây là khu chợ nhỏ với các gian hàng bán hoa tươi tuyệt đẹp, nhưng sau đó chiến tranh nên bỏ không, giờ họ biến nơi này thành các nhà hàng. Bazaar này thực chất giống như 1 khu nhà cao tầng, xây kiểu chữ U với khoảng sân, giếng trời ở giữa. Ở khoảng sân, các nhà hàng bày bàn ghế ra sát sạt, giống y chang nhau, từ cách bày trí sang trọng tới món ăn tinh tế. Ghế đỏ trắng, hoa trắng đỏ. Mái vòm của khoảng sân này được phủ kính và các họa tiết hoa văn cầu kì. Gozde kéo ghế cho tôi rồi bắt đầu ba hoa về những thứ phải ăn. Anh bồi bàn đẩy 1 xe đầy những đĩa nhỏ xíu màu sắc khai vị. Gozde nhanh tay lựa pho mát khô, dưa vàng, sữa chua, loại sốt vàng ươm từ quả cà tím xay nhuyễn, loại khác là hỗn hợp trộn cà tím nướng băm nhỏ với pho mát tươi để quyệt lên bánh mì, và dĩ nhiên cùng 1 ly Raki. Raki có vị hồi nồng nặc, 45 độ, uống tới đâu biết tới đó. Khi uống không ai dám nếm thẳng, mà thường đổ vào 1 ly nước trắng, Raki từ màu trong như vodka chuyển sang đục ngầu như rượu nếp cái. Tôi nhắm mắt nhắm mũi uống vài hớp, mùi hồi hăng hắc, vị rượu ngọt lợ làm tôi rùng mình, nhớ lại thứ rượu Hy Lạp. Gozde nhăn mũi tụi Hy Lạp bắt chước. Tôi cười Hy Lạp không ngon bằng. Gozde vỗ tay tao yêu mày lắm. Rồi cô ấy lấy menu hứng khởi gọi đĩa mực cắt khoanh chiên xù, một đĩa bánh cuộn phô mai, một đĩa  tôm nấu rau củ, rắc phô mai bỏ lò, khi mang ra còn nóng bỏng, pho mát xì xèo, mỡ nổ lốp bốp.  Raki làm tôi nóng ran người, tay chân đỏ rần, đầu lâng lâng, phải gọi ly Ayran dịu mát. Bàn bên cạnh có tốp ca sĩ đang đàn hát cho khách, Gozde nói đó mới là cách ăn tối ở Istanbul. Sau này khi dọc con đường ở Fish bazaar nhìn quanh thấy ai cũng ăn như vậy, 1 đĩa hải sản, 1 ly Raki, 1 đêm Thổ.

Gozde chỉ tôi con đường nhỏ với các bậc thang, hàng quán bầy xen kẽ, thực khách ngồi ăn lố nhố, màu sắc chen lẫn ¨đây là nơi tao thích nhất, nhưng không phải quán tao yêu nhất¨. Quán cô ấy yêu nhất nằm trong 1 hẻm nhỏ, có lẽ đâu đó trên đường tới tháp Galata, quán phải đi lên thật cao, rồi đi xuống thật thấp qua dãy cầu thang  bé tẹo. Những tưởng quán sẽ bé xíu như các quán ở phố cổ, nhưng hóa ra lại to bất ngờ như khi vào Vô thường, ẩn sau cái ngõ sâu hun hút là một mảnh vườn khế ngọt, còn ở đây là một vườn chanh vàng thơm mát. Hai đứa vào, giả bộ ăn, kiếm một cái bàn đẹp đẹp tán chuyện rồi chuồn, để lại hương chanh dịu mát. Chúng tôi lội vào đêm trên đường phố đông nghẹt Istiklal. Hàng quán 10h đêm vẫn sáng rực, người tấp nập, nhạc xập xình. Những đám đông ngồi bệt uống bia dưới chân tháp Galata, khiến người qua lại phải len lỏi. Galata là công trình cao nhất ở Istanbul, xây dựng từ thời Ottoman để làm đài quan sát, giờ thì vác nguyên 1 vũ trường trong lòng. Len lỏi một hồi không tìm được quán trà Thổ nào ở Beyoglu, thì chân 2 đứa cũng cuống khi hàng đã quán đóng hết, Gozde nói không thôi ” nơi này an toàn tuyệt vời, khu Anatolian mới đáng sợ”.

Anatolian nằm phía bên kia biển. Theo thuyền từ Beşiktaş tới Kadıkoy, tôi lên mini bus đi dọc 1 đường cơ bản khu châu á. Trời nóng tới kinh khủng, tôi mệt rã từng thớ cơ. Đợi Gozde tan tầm, hai đứa vào quán bar làm vài cốc bia với hạt rang muối. Lại Efes nhé, tôi ừng ực như chết khô, Gozde hào hứng ¨tao mừng vì mày thích bia Thổ¨. Ừ tôi thích bia Thổ, thích nơi đây nơi bar pub túm tụm, giới trẻ quy tụ, không khí tươi trẻ như sự trỗi mình không nghỉ của Châu Á. Quán Waffle mở cửa thật muộn, đầy nhóc hoa quả, socola, nutella, thơm nồng bơ sữa, mỗi đứa 1 cái vẫn thòm thèm, còn ngon hơn cả Waffle Bỉ. Selva khi nghe bọn tôi đang ăn Waffle thì giận dỗi lắm, có đồ ngon mà không rủ nó. Tôi lại tưởng cô nàng chỉ thích những quán bar sang trọng ở Bebek, nơi gái đẹp trai xinh, có thể ngồi nhâm nhi ly bia bên bờ vịnh Bosphorous, nhìn sang bên phía châu Á, trăng lên tròn vành vạnh ngày rằm. Hôm nay khác, chúng tôi bên phía châu Á nhìn sang châu Âu, trăng không còn vành vạnh. Chúng tôi ngồi trên bờ đá kè biển, gió chẳng thổi, không khí hơi o bức, mỗi đứa vài lon bia và chips. Chúng tôi ôn lại những ngày ở Torino, những đứa hâm hâm dở dở ở Sponda Verde, về Camila, Kathe, về chuyện tình của Gozde. ¨Tao mừng là mày đã đến đây, ở nhà tao¨ ,¨tao cũng vậy¨. Hàng đêm, 2 đứa miệt mài lên kế hoạch đi chơi 1 mình ngày tiếp theo cho tôi. Không có bản đồ, tôi vẫn đi được y chang. Tôi đi theo cánh hải âu đấy, Gozde có tin không nhỉ?

Dưới cánh hải âu là mái nâu của những ngôi nhà Istanbul, là chóp nhọn của tòa lâu đài Topkapı, của thánh đường Ayasofya (Hagia  Sophia), của nhà nguyện Yerebatan Sarnıcı (Basilica Cistern), của Aya İrini (Hagia Irene), của Sultanahmet Cami (Blue Mosque), hay của chợ Kapalı Çarşı (Grand bazaar) bên khu cổ kính. Dưới cánh hải âu, có Taksim, có uy nghi tháp Galata, có lâu đài Beşiktaş Dolmabahçe, pháo đài Rumeli Hisarı (Rumelian Castle) nơi châu âu mới. Dưới cánh hải âu, người ta buôn bán lạo nhạo châu Á. Dĩ nhiên, dưới cánh hải âu, tàu bè xé nước nối những vùng đất tưởng như riêng biệt, trên cây cầu nối lục địa Á Âu, xe cô vẫn chạy, vẫn tắc liên miên. Và dưới cánh hải âu, tôi, Gozde ngồi đó, uống bia, vui sướng với sự ngẫu nhiên gặp nhau trong đời. Bạn bè là cái duyên không thể tránh.

Istanbul và những người phụ nữ đạo Hồi

Gozde và Selva

Istanbul!!!! Tôi đang ở Istanbul, dụi mắt 3 cái, mở mắt 2 cái, hấp háy nhấp nháy, không đùa đâu, là thực đấy. Chính xác là tôi đang ở đây, ở quảng trường Taksim lúc 1h sáng, giữa đống lộn xộn đô thị đêm.

1h sáng tôi loay hoay ở ổ mất an ninh trật tự bậc nhất, điện thoại không tiền, tiếng Thổ không biết, nhà bạn không hay, hoàn toàn bơ vơ lạc lõng. Tôi tức giận bản thân, mặt mếu, chân dậm đành đạch. Một hồi không ai thương, bèn quay ra khóc lóc, vừa khóc vừa ngúng ngẩy kiểu oan ức lắm. Cái này là làm thật, hoàn toàn thật, bởi lúc đó ức chế quá, vừa tức vừa thương thân mình.  Tức mình rồi tức người, tự nhiên quay sang căm tức quí bà trên xe bus đi cùng tiếng trước. Vì cớ gì mà tôi lại giận bà ấy cơ chứ?Đó là một con người tao nhã, đẹp đẽ, phong thái đàng hoàng, và hơn hết là chẳng có liên quan gì tới tôi cả. Thật vô duyên vô cớ.

Chuyện là khi tôi đang luống cuống tìm chuyến xe bus vào thành phố, thì tôi va phải quí bà ấy. Bà có mái tóc vàng nhạt, người đầy đặn, mặc chiếc váy voan đen nhẹ nhàng, đeo kính, và trên tay cầm 1 cuốn sách đang mở. Bà ấy chỉ tôi chiếc xe vào thành phố. Chúng tôi tự nhiên thành bạn đường. Đến bên thùng xe, bà đặt nhẹ chiếc valy, trong khi tôi đặt cái valy của mình huỳnh huỵch, vẫn còn tức bực vì bị anh Bù xù bỏ lại ở nơi đồng không mông quạnh. Tôi lên xe, tìm một chỗ an chân, nhìn ngó loanh quanh thấy qúi bà ấy vẫn đang ngồi an nhiên đọc sách ở quán nước ven đường. “Thế này thì xe còn lâu mới chạy”. Tôi chỉ cần nhìn sự điềm nhiên của bà ấy là đủ chán điên người. Bà ấy càng tự tại, tôi càng giận; tôi cần xe chạy, đêm đã khuya lắm rồi, tôi thèm 1 chỗ ngủ. Cái dáng vẻ trịch thượng, vắt chân chéo, đọc sách tỉnh queo, không cần biết xung quanh làm tôi nóng ruột. Làm sao có thể ngồi đọc sách, khi mà xe có thể chạy bất cứ lúc nào nhỉ?Tôi vẫn thường đọc sách trên tàu, nhưng cứ vài giây lại ngước lên 1 lần để tin chắc mình không đi quá bến. Vậy mà quí bà váy đen ấy không ngước lên dù chỉ một lần để kiểm tra. Cái cốt cách tự tin ấy làm tôi dấy lên cảm giác ghen tị, thèm muốn. Bà ấy 50 tuổi đẹp, sexy, thời thượng, hiện đại, tri thức, và rất tự tin. Khi bà gấp sách, bác tài liền xuất hiện, xe chạy. Tôi nhích vào ghế trong, hy vọng người đàn bà ấy sẽ ngồi cạnh. Bà ấy ngồi hàng đối diện, cũng cạnh cửa sổ, nhìn ra ngoài. Có gì trong đôi mắt nâu ấy nhỉ?ánh sáng đèn đường hay những nỗi muộn phiền của người phải quẩn quanh trong đêm. Tôi không biết bà ấy nghĩ gì, cũng chẳng biết bà ấy là ai, vẫn đánh liều sang nói chuyện. ” Bác có di động không?cho cháu mượn gọi cho bạn với, điện thoại cháu hết tiền”. Bà ấy quay lại nhìn tôi, ngạc nhiên, rồi lắc đầu ” Tôi không có”. Cái lắc đầu của dân thành thị sao đáng sợ thế. Tôi lùi lại, thấy kì lạ, một người hiện đại như thế lại không có điện thoại là sao?Và giờ đây, khi đứng giữa Taksim, thái độ lạnh lùng như thạch sùng ấy đúng kiểu dân Istanbul mà anh Can vẫn dọa ấy lại hiện về. Thật chán.

Xung quanh quảng trường có cả tá người l lố nhố, 1h đêm rồi mà cái thành phố này không thèm ngủ. Gái trai cười rinh rích từng nhóm nhỏ, người đi lại mua bán trong con đường thương mại gần đó vẫn đông vui. Họ vui vẻ, họ thoải mái, họ tận hưởng đêm hè đã bớt oi ả. Tôi chạy tới vài người nhìn lương thiện nhất để hỏi mượn điện thoại, ai cũng lắc đầu nguây nguẩy ” Tao không dùng di động”. Tôi mếu máo, chạy tới xe công an, lò đầu vào hỏi anh lái, anh không cho mượn, chỉ chỉ đường ra quầy mua thẻ điện thoại công cộng. Kể cũng lạ, ở đất nước kinh tế thứ 5 thế giới mà dân chỉ xài điện thoại công cộng, ấy thế mà cái bốt điện thoại ở đâu cũng không thấy. Sự kì lạ này làm tôi bất ấm ức quí bà, nhưng tôi  lại ấm ức người khác, công an gì mà không tốt, bắt mình lại chạy tứ lung tung.

Hỏi hết anh bảnh trai, tới chị thanh lịch, cùng quẫn lắm tôi lại gần 1 chị bịt kín từ đầu tới gót. Khuôn mặt chị trắng trẻo thanh tú, hiền hiền, giọng dịu dàng, đoán chắc không có bom giấu trong váy, tôi mới giáp lá cà.  Khác với vẻ ngoài kín bưng, chị niềm nở, nói tiếng Anh sành sõi. Chị lôi trong đám áo trùng ra chiếc điện thoại cũ. Tôi mừng rỡ khôn xiết, thật là không thể đánh giá sách bằng bìa, nước hoa bằng lọ. Tôi gọi cho Gozde, Gozde cũng mừng ” Tao đang lo mày bị lạc ở đâu rồi. Túm ngay cái taxi đi, rồi bảo ông ấy gọi cho tao để tao chỉ đường”. Thế là tôi túm đại một cái taxi đen kịt. Theo đúng lời anh Thổ dặn “Ở Istanbul lộn nhộn, lừa đảo khắp nơi, mày phải cẩn thận với cả taxi”, tôi chọn ngay chiếc xe có số điện thoại rõ ràng (dù không biết là số thật hay giả). Theo lời chỉ dẫn của Gozde thì bác tài phóng vèo vèo qua những ngõ hẻm, leo con dốc 45 độ, xuống con dốc 30 độ, cuối cùng vóc dáng thanh tú của Gozde cũng hiện ra. Tôi ôm chầm lấy bạn, chẳng buông.

Gozde là cô bạn cùng phòng của tôi ở Ý. Sống với nhau một năm, nhưng chúng tôi không thân nhau lắm, bởi Gozde có vẻ kiêu kì, lành lạnh của người thành phố. Mặc dù cô ấy rất vui vẻ, đáng yêu, chân thành, nhưng khó hòa hợp. Ngoài những lúc Gozde ngồi yên lặng ở ban công châm thuốc, cô ấy là người hoạt náo, sôi nổi. Cô ấy là kiểu người, thỉnh thoảng thích làm những điều rồ dại trong tĩnh lặng. Phòng Godze thường khóa trái, nên khi mở ra đặc mùi khói thuốc, bên trong toàn ảnh mèo, sticker mèo, chăn mèo, gối mèo, cô ấy nghiện mèo. Ở Istanbul trong nhà cô ấy cũng có 1 con mèo kì kì, Godze kể về nó như con của mình với kiểu rất nhọc lòng” Dạo này nó lơ tao, nó đang chơi kết bạn với 1 vật vô hình rất thú vị”.

Hồi đầu mới ở cùng nhau, Gozde, Camila và tôi hay tụ tập ở phòng khách, ăn uống trò chuyện, mỗi lần ăn xong, Gozde lại xoa bụng “tao có bầu kinh niên”, 2 đứa còn lại cũng tán thành. Sau thì ai phòng nấy, chỉ còn mình tôi bụng bầu kinh niên.  Những lúc chán, chúng tôi lôi ảnh các anh chàng tài tử ra bình chọn, ai là người đàn ông tuyệt vời nhất, George Clooney hay Johnny Depp. Tôi với Godze đều ca thán bị cha mẹ giục cưới, còn Camila nếu thông báo cô ấy sắp cưới thì bà mẹ sẽ bay ngay sang chửi “Mày điên à con”. Lần Gozde chia tay bạn trai, cô ấy nhốt mình trong phòng 2 ngày, mắt đỏ hoe, tới ngày Camila chia tay bạn trai cũng vậy. Khi tới, chúng tôi là 3 cá thể khác hẳn nhau, ngày rời xa, 3 đứa có điểm chung là cô đơn. Đêm chia tay, 4h sáng cả lũ từ quán bar về, 5h Gozde ra sân bay, 3 đứa ôm nhau khóc, rồi 6h tôi ra sân bay, Camila bảo ” tại sao chúng mày cùng bỏ tao đi 1 ngày như thế, tao phải làm sao”. 2 tuần sau tôi quay lại, thấy Camila tận hưởng sự tự do rất thích thú, đúng là điều gì cũng có thể thay đổi.

Sau một năm gặp lại Gozde, cô nàng tóc dài vàng đã biến thằng cô nàng tóc nâu ngắn thời thượng. Chỉ có đôi mắt xám trong vẫn thế, cuốn hút bất kì ai nhìn vào. Gozde có nụ cười tươi, ngọt ngào quyến rũ, như Meg Ryan. Nhưng khi cô cười, mặt xếp nếp nhìn lại già còng, điệu cười thì giòn tan, vô tư lự. Gozde theo đạo hồi nhưng sành điệu, xinh đẹp, dáng cao gầy, chỉ hơi vòng kiềng chút xíu. Tôi lúc nào cũng ao ước được thanh mảnh và ngọt ngào đến thế. Nhưng khi gặp cô nàng quái tính Selva- em gái Gozde thì tôi thay đổi hẳn ý định đó.

Selva sắc sảo, hiện đại, mang vẻ đẹp thông minh của Andrey Huppern. Cô ấy tô son đỏ, đánh mắt đậm, tóc đầu Pixie để tôn lên khuôn mặt xinh đẹp nhỏ xíu. Mặc áo sơ mi trắng xẻ cổ, với chiếc quần skinny màu bạc hà, cô ấy thời thượng như Mirranda Kerr. Tôi cá là cô ấy mặc bikini thì cũng đẹp như bất cứ thiên thần Victoria nào. Selva xinh đẹp kiêu kì, yêu bản thân hơn tất thảy, Gozde bảo vậy. Phòng cô ấy phải to nhất nhà, bố trí dàn đẹp sáng rực rỡ cùng bộ gương to nức nở, để lúc nào cũng có thể nhìn thấy vẻ đẹp của bản thân. Váy aó đều được treo lên xe móc, giống sau cánh gà của những sàn catwalk, nhìn rất đẹp mắt và thú vị. Trên bàn trang điểm, nước hoa, mĩ phẩm chen chân đứng, không có chỗ cho bụi chui lọt. Estee Laude đấy, ôi trời ơi, cô ấy là giám đốc điều hành ở đó mà, sản phẩm thử, thật không biết bao nhiêu cho xuể. Mỗi ngày cô ấy trang điểm một kiểu, kiểu nào cũng làm tôi không chớp mắt. Đến khi cô ấy tẩy trang nhìn lại đáng yêu như con mèo, tôi cá là bạn trai của cô ấy phải vui lắm,  được sở hữu 1 con cáo, 1 con mèo.

Cáo có đáng sợ không?không, vì tôi đã thấy một con báo Guapa. Gizem, bạn thân của Gozde có dáng vẻ của một nàng châu Mĩ nóng bỏng. Qủa thật khi cô ấy sang Mĩ, ai cũng nghĩ cô ấy tới từ Venezuela, trong khi Gozde được nghĩ là tóc vàng hoe vùng Cali. Khi Gizem bước vào quán bar, các con mắt đều ngoái lại trầm trồ vẻ sexy tự nhiên tới thản nhiên của cô ấy. Tới Selva cũng ghen tị khi Gizem tới xoa đầu “Oh my baby”. Cô ấy hồ hởi ngồi xuống nói chuyện với tôi bằng thứ tiếng Anh không thể Mĩ hơn, rồi tự nhiên nhíu mặt vì lưng quá đau sau 1 tuần disco liên miên. Gizem cũng dân kiến trúc giống Gozde nhưng nhìn vẻ sexy hoang dã của cô ấy không ai tin cả. Bỏ nguyên 2 năm để đi luyện thanh, thu âm, làm đĩa, nhưng sự nghiệp ca sĩ chỉ dừng ở 1 bài hát cho quảng cáo của trẻ con trên tivi. Gizem chán nản, liền quay lại sự nghiệp học hành, sau thạc sĩ cô ấy sẽ làm tiếp tiến sĩ ở Mĩ. Không thể tin được.

Gozde, Gizem và Selva luôn làm tôi hoài nghi về phụ nữ đạo Hồi. Họ giỏi, đẹp, phóng thoáng, họ đạo Hồi thật sao?Gozde bảo 100%, nhưng là đạo Hồi tân tiến, nơi con người ta không phải ngày 5 lần hành đạo, không phải kiêng rượu hay lợn bò. Gozde có thể ăn tất những gì cô ấy muốn, thỉnh thoảng cầu nguyện, hàng ngày có thể mặc váy ngắn, cổ sâu, liếc mắt với các anh chàng. Thế nên cô ấy sống ở phía châu Âu hiện đại của thành phố. Ở phía châu Âu già nua cổ điển, phụ nữ thường mặc váy dài tới gót chân, trùm khăn kín đầu, chỉ lộ mình khuôn mặt. Mùa hè nhìn thấy họ thật chết ngốt. Nhưng dù sao họ cũng mặc các màu sắc tươi tắn, hoa văn phức tạp, chứ không đơn điệu một màu đêm như phụ nữ đạo Hồi cực đoan. Những phụ nữ kín mít này lại rất thân thiện dễ thương. Họ không ngại, không tránh người lạ, khi tôi tới hỏi đường, họ rất nhiệt tình. Họ không sẵn sàng cởi đồ nhưng sẵn sàng cởi lòng. Chỉ có điều họ rất khó gặp khi việc buôn bán là của đàn ông. Chỉ ở phía châu á của Istanbul, phụ nữ cũng ra đứng quầy. Phụ nữ ở đây được ăn mặc thoải mái, nhẹ nhàng, nóng mặc ngắn, lạnh mặc kín, chỉ cần có mặc. Họ nhìn giống dân ở phía châu Âu hiện đại của Istanbul, nhưng có phần kém sành điệu, dân chơi.

Những người phụ nữ, họ là cả một niềm say mê cho nhân loại. Họ dễ thương, quyến rũ theo cách riêng không đụng hàng. Những người phụ nữ Istanbul thì còn hơn thế, họ thật sự rất đẹp về mặt nhân chủng học. Họ nằm ở nơi giao thoa Âu Á nên vẻ đẹp của họ cũng vậy, mắt sâu, mũi thanh, da trắng, đẹp như Âu, nền nã như Á. Họ có thể che thân hoặc khoe thân đều khiến dân mũi tẹt ghen tị, dân mũi lõ trầm trồ. Họ có thể e thẹn, kín đáo, hoặc phóng thoáng vui vẻ, họ đều là những phụ nữ đạo Hồi, thật thú vị khi được làm quen.

Pamukkale và anh Bù xù

Chuyện là trong thời gian ở Thổ Nhĩ Kì, mỗi ngày tôi đều được đi chơi với 1 anh. Hết sức trong sáng. Ngoài vụ việc bị anh cao bồi tán tỉnh, thì các anh còn lại đều nhìn tôi xoa đầu “ bé mà ham chơi”. Trong số các anh có anh Bù xù. Anh Bù xù chính là anh Nhật bản, 32 răng vàng ệch, nụ cười nhăn nhúm, tóc tai bẩn cáu, thỉnh thoảng lại gác chân lên gãi sồn sột mà tôi gặp tại Cappadocia. Anh giông giống khỉ đột, sống trong hang đá ở Goreme thì y chang người vượn cổ, kể cả cái bản chất lương thiện, hiền hiền. Anh là cái kẻ nói không thạo, nghe không sõi tiếng Anh, vậy mà vẫn quyết tâm đi vòng quanh thế giới. À, thế mới hay chứ, tôi lại gặp dị nhân. Biết đâu một ngày nào đó anh vào Guiness, tôi lại được hân hạnh đi chơi cùng anh 2 ngày, 1 đêm.

Ngày tôi rời Goreme, anh chủ trọ nháy mắt “ Mày đi cùng thằng Nhật à, đẹp trai đấy”. Cái nháy mắt đầy ẩn ý nhưng anh đâu hiểu thâm sâu của tôi. Chuyện chỉ vì cô bạn Đài Loan đi Pamukkale trước 1 ngày gửi cái thông báo tối thượng về “ Cực đẹp, không đi mày hối 1 đời”. Tôi lại nghe ngóng thấy anh Bù xù cũng định tới thác nước thần tiên này, anh có cái máy ảnh xịn thật xịn, tay máy của anh vững thật vững, tôi thì không máy ảnh, lại thích làm mẫu. Thế là a lê hấp, tiếp cận, “ Ê, đi Pamukkale cùng tao nhé”. Anh Bù xù nghe có bạn đi cùng, cũng mở cờ trong bụng “ vậy là có đứa chụp mấy kiểu ảnh kì quái cho mình”. Anh cười nhe răng sáng choang, trán nhăn nhúm như tấm ga trải giường, gật đầu lia lịa “ Nào mình cùng lên xe bus”. Thế là hai bạn dẫn nhau lên chuyến xe Metro, dài đằng đẵng 11h, dài hơn cả cái lai quần bà nội, dài tới mỏi cổ, mỏi tay, mỏi chân, mỏi trí óc vẫn không thấy bến bờ.

Xe băng đêm, tới huyện Denizli lúc 6h, trời mới kịp sáng. Tôi rũ rượi, vật vờ, vứt được cái valy to nặng ở văn phòng xe khách, thì lê lết bước ra ngoài, để lại sau lưng tiếng cười của ông bán vé “ Một đứa Việt Nam, 1 đứa Nhật sao chúng mày quen được nhau?thằng Nhật này khá thật”, ông huých mạn sườn anh Bù xù, cười cợt, tỏ rõ chuyện chỉ đàn ông mới hiểu. Tôi ngó lơ, tìm đường tới Pamukkale.  Sáng sớm, đâu đã có ai trên những con đường.

Pamukkale có nghĩa là “lâu đài bông gòn”, nghe thật dễ thương, bởi ở đây trắng xóa một màu. Nhiều người nhìn thác trắng này còn nghĩ “ ơ, hay là tuyết nhỉ”, nhưng đá trắng ở đây được kết tinh từ muối khoáng. Khi những mạch suối nước nóng chảy qua, muối khoáng tồn lại, qua hàng nghìn năm kết tủa tạo nên những lớp đá muối trắng. Chỗ này nhũ chảy giọt , chỗ kia thềm chia mảng. Nhưng mảng sàn lớn được phủ lên bởi lớp nước xanh ngọc, giống như những hồ bơi bé bé của thiếu nhi. Nhìn từ xa, Pamukkale giống một thác nước khổng lồ, tung bột trắng xóa. Đến gần, bỏ giầy ra, đi men theo con đường đá trắng, thấy ram ráp cưng cứng như chà đá mài mới biết đấy là nhũ muối. Con đường dốc trắng chỉ kéo dài một đoạn, sự ngắn cụt là hệ quả của quá trình đô thị hóa dài lâu. Một đoạn ngắn thế thôi cũng đã làm chai sạn bước chân, thấy cứng còng, ngưa ngứa, tay tung tẩy mà miệng kêu oai oái. Anh Bù xù nhìn lại, cười nhăn nhúm “ Tới chỗ mát rồi này”.

Dòng nước lành lạnh len lỏi trong từng kẽ chân thật nhẹ nhàng.Nước trong suốt mà sao khi cô quánh trong những hồ nhỏ lại xanh ngọc đến vậy. Mỗi hồ bé hình dạng như miêng con trai há miệng, ngậm thứ nước xanh như có thuốc nhuộm, xanh như từng mảng trời bị rơi xuống. Anh Bù xù lao vào tắm gội, làm tôi cứ lo đục mất bầu trời bé bỏng. Anh lao vào bơi thoải mái như con cá kình, ngụp lặn trong làn nước xanh, làm sục lên lớp bùn trắng dưới đáy. Tôi cũng tranh thủ trét bùn lên mặt lên tay, nghe nói tốt cho da lắm. Bùn mịn mượt, giống đất sét làm gốm, giống phấn ngâm nước, giống thạch cao, cầm vào tay là tan chảy, nhỏ rọt qua kẽ. Tôi đắp mặt nạ cho mình rồi hú hét giống dân mọi. Cả khoảng không bao la này, chẳng ai nghe thấy. Dưới kia các mái nhà vẫn ngủ yên giấc, ông mặt trời đã chìm sâu trong những làn mây, gió chẳng thổi tới, dân du lịch chưa vãng lai, còn anh Bù xù đang bận rửa mình bên dòng nước đổ ào ạt từ trên cao xuống.

 Pamukkale rất kì lạ, cấu trúc của toàn vùng giống như tổ hợp những cái bát sứ xếp lớp lên nhau, lớp dưới 4 bát, lớp trên 3 bát, rồi 2 bát. Mẹ thiên nhiên rót thứ siro xanh ngọc lên chiếc bát trên cùng, cho nó chảy đều đều xuống những lớp dưới, vậy là hoàn thành. Ai nhìn cũng mê đắm, đẹp thế không biết. Tôi với anh Bù xù còn lao ra xa xa, nơi những cái bát cheo leo bên bờ vực, chỉ 1 bước chân thôi là rơi vào gió và nắng. Hai bạn thi nhau nhảy múa, chụp hình, tới khi có tiếng tuýt còi thì mới biết là mình đang phạm luật. Lúc này khách du lịch đã đông lắm rồi, đa phần là dân Nhật với dân Hàn, họ cười nói hỉ hả, ầm ĩ cả tiên cảnh. Sau khi đã lặn một hơi dài khắp hết các hồ nước, hai đứa lúi húi ra đi, nhằm thẳng hướng Hierapolis mà tiến.

 

Quần thể Hierapolis – di sản của UNESCO được xây dựng bên trên đỉnh lâu đài bông. Khu vực này giống như những di tích ở Hy Lạp, nơi bạn có thể thấy nền những nhà tắm công cộng thật to, nền khu nhà chứa rượu, nền nhà thờ. Tất cả chỉ còn nền đá, vài cây cột Doric, cỏ mọc xanh um, và nghĩa địa. Nghĩa địa được xây ngay trước cửa vào thành phố. Còn sau cổng vào là nhà tắm, nơi khách vãng lai có thể gột rửa hết bụi đường trước khi tới nơi tôn nghiêm. Anh Bù xù đi theo toán người Nhật để nghe lỏm lời của anh guide. Ở Pamukkale cũng hay, dân guide hay dân khách sạn đều nói tiếng Hàn tiếng Nhật veo véo, chỉ bởi dân các nước này tới  đây quá đông. Tôi vì đi theo anh Bù xù cũng được giảng giải đôi chút. Khi chán nghe guide thì hai đứa ngồi rạp ra ở khu nhà chứa rượu. Đó là khu vực rất lớn với hàng cột đối xứng hai bên, để lối đi giữa rộng rãi cho người ta tới lựa rượu. Tôi bắt đầu hỏi về chuyến du lịch thú vị của anh.

“Tao đi làm 5 năm rồi, hằng ngày mặt veste, thắt carvat mệt lắm, tao không chịu nổi nên bỏ. Tao dành tiền đi vòng quanh thế giới để xem ý nghĩa cuộc đời. Hành trình bắt đầu từ Nhật, sang Hàn, sang Đông Nam Á. Tao đi dọc Việt Nam rồi đấy”. “ Trời ạ, ước mơ đời tôi đấy” tôi thảng thốt, thấy giận mình khi mà đi đông đi tây rồi mà không đi quá được Hà Nội. “ Đi đi, thú vị lắm, tao cũng thích Việt Nam. Sau Đông Nam Á là tao tới Thổ Nhĩ Kì, sau Thổ sẽ là Sofia. Từ Sofia tao sẽ mua con xe đạp, đạp xuyên châu Âu, từ Bulgari tới Tây Ban Nha. Tháng 10 thì tao sẽ đặt chân tới Ai Cập, sẽ đi xuyên lục địa đen, sẽ cán mũi Hảo Vọng trong 3 tháng. Tuyệt không?”. “ Thật kì diệu”. Và đúng là anh Bù xù đã làm như thế. Anh đã mua 1 con xe đạp ở Sofia, mỗi ngày anh gồng người đạp 90-100km qua Serbia, qua Ý, qua Thụy Sĩ, qua Montpellier của nước Pháp, rồi theo đà tới Tây Ban Nha. Anh dừng chân ở Toledo sau 2 tháng. Có những ngày anh Bù xù sốt 39 độ, người rệu rạo, nhưng sáng mai ra lại vác xe đạp lên đường, khi nào mệt thì leo tàu đi tiếp. Anh có hội 4 anh cũng bù xù, bẩn thỉu, mà kiên cường. Hành trình trên đường của họ thật vui tươi, họ gặp bao nhiêu người vui vẻ, tốt bụng và hơn hết, họ chiến thắng mọi sự hà khắc của thời tiết, sự yếu mềm của thể xác, sự nhụt chí của tinh thần, và xã hội.

Khi rời Barcelona, anh bay tới Paris vào một ngày mưa lất phất, điện thoại không roaming. Tôi ra đợi anh ở bến metro lúc 1h đêm, đơi mãi chẳng được bèn quay về. Áy náy không ngủ nổi, tôi đợi tơi 2h thì có tin anh trên Facebook, “ này tao đang ở Place d’Italie, mày ra đón nhé”. Tôi sợ rét, sợ lạnh, sợ rệp, sợ đen, bèn vứt địa chỉ cho anh, rồi ra cửa ngóng. 2h30 sáng anh tới, vẫn bù xù bẩn thỉu, vẫn cười nhăn nhúm, đen thù lù. Dẫn anh vào nhà 1 thằng nhóc ở đây, kê cho cái gối, đặt cho cái chăn, anh thu vào một góc ngủ. Sáng mai, anh nhìn tôi lại cười hề hề cảm ơn. Tôi đang trong những ngày nước rút cho báo cáo, chỉ kịp đưa anh đi mua sim điện thoại, đi thuê xe đạp. Tối về đã thấy anh kể vừa đi Versaille. Ăn trưa với nhau được một lần, uống café được một buổi thì anh lên đường sang Prague. Bắt tay tạm biệt, anh bảo “Mày nhớ sang Kyoto chơi nhé, hoặc gặp nhau ở Châu Phi đi”, làm tôi lại háo hức lên đường.

Cái háo hức y chang như khi ngồi xe bus từ Pamukkale tới Istanbul. Con trâu đất là tôi, đi 11 tiếng tới Pamukkale, chơi 6 tiếng, rồi lại ngồi xe bus 11 tiếng tới cố đô. Ra đi khi mặt trời lên đỉnh, nắng chói chang chiếu ánh nhũ trên những lớp muối khoáng. Anh Bù xù đang chơi hắt nước cùng tụi nhỏ thì bị tôi lôi đi. Lên xe mắt nhắm mở, mệt mỏi rã rời, nóng như thiêu đốt, xe vừa đi vừa dừng tới 12h đêm mới ghé Istanbul. Trên con đường quốc lộ vào thành phố, từng dòng xe hối hả chạy lướt qua nhau, chiếu đèn sáng loáng. Thành phố không bao giờ ngủ, sống động hơn cả tưởng tượng. Tôi vừa háo hức vừa sợ hãi khi bước xuống. Có nhiều điều mới mẻ đang chờ đợi trong dòng ánh sáng ấy, cũng có nhiều điều lo sợ. Khi lúc này đây, tôi đứng trơ chọi tại bến xe bus, cách thành phố tới 40ph đi xe, xung quanh không ai nói tiếng anh, và anh Bù xù đã bắt 1 chuyến xe khác để về nhà nghỉ. Tôi còn chưa biết chuyến xe nào sẽ vào trung tâm. Điện thoại tôi hết tiền, giờ đúng là cục gạch, không gọi tới, không gọi đi, không ai ở đây cho tôi mượn dùng tạm, họ cáu kỉnh khi phải di chuyển nửa đêm. Bắt bừa 1 chuyến xe vào thành phố, tôi đánh lô tô với cuộc đời. Trên chuyến xe, những người trẻ nghe nhạc, có quí bà đọc sách, vài người ngủ tôi ngồi nem nép “ Làm sao để về được nhà cô bạn Godze khi mà cô ấy không cho tôi địa chỉ”. 1h đêm tôi một mình ở quảng trường Taksim, nơi xe cảnh sát lượn vòng vòng không dứt.