Tôn giáo bia và hội hè liên miên (P2)

Hội hè liên miên

Lễ hội Vélo 24h

Những ngày đầu tháng 10, trời hơi lạnh nhưng có chút nắng vàng hiếm hoi xứ phương Bắc. Những ngày đầu năm, buổi học bắt đầu 8h sáng, dù có mê mệt với cái giường thú bông, tôi cũng phải cố lê bước tới trường.

Sáng nay tôi đi học và không thấy giáo sư đâu.

“Sao giáo sư lại bỏ dạy thế này được nhỉ?”

“Chỉ có thể vì hôm nay là Vélo 24h” Alex gợi ý

“Xì, làm sao mà giáo sư lại vì trò trẻ con đó mà bỏ được”

“Let’s see” Vengat nhảy vào

Sau 30ph đợi trong mòn mỏi, cả lũ chúng tôi phấn khởi trở về vì nghỉ được 4h. Tôi đang loay hoay do các con đường đã bắt đầu bị rào chắn lại và đám đông đổ ra ngày một nhiều thì vèo

“Nhìn kìa giáo sư Marq Benoit” tôi hét lên

Đúng vậy thầy giáo của chúng tôi và còn là phó hiệu trưởng UCL đang làm tay đua kiệt xuất, dẫn đầu đoàn đua tiến về phía Rue de Wallons. Có lẽ ông là người khai trương giải đấu.

“Giáo sư cố lên, giáo sư cố lên” chúng tôi hò hét và vẫy tay cật lực. Thật chẳng có ở nơi nào mà giáo sư cũng tham gia ăn chơi nhiệt tình như ở đây.

Louvain la neuve là thành phố tí hin,  nên nếu bạn mong chờ một cái gì tuyệt vời có thể xảy ra ở đây thì chỉ có thể là 24h Vélo. Lễ hội truyền thống xảy ra vào những ngày tháng 10, khi mà sinh viên cả xứ Bỉ đổ về chốn nhỏ bé này. Lễ hội  do Kot CSE tức là nhóm những kẻ đam mê thể thao lập ra từ những năm 1976 (quả là những kẻ thừa năng lượng). Tôi vẫn còn nhớ trong buổi thuyết trình về LLN ở lớp học tiếng pháp, trong slide của tất cả các nhóm đều nhắc tới 24 velo như 1 phần tất yếu của cuộc sống. Cả lũ có thể thao thao bất tuyệt hàng giờ về những thứ hay ho trong 24h vélo, nhưng rồi lại ngậm kẹo mút ngó lơ khi Nancy – cô giáo tiếng Pháp nhiệt huyết của chúng tôi hỏi:

“Vì sao 24h vélo lại chọn xe đạp chứ không phải phương tiện khác”

Kì quặc thật, bởi nó là 24h vélo chứ sao nữa, không thì nó phải thành 24h motor hay 24h rouler (chạy) sao, nghe tên chẳng hay tẹo nào. Tôi quay sang Vengat – cậu bạn cùng nhóm thuyết trình “Chắc chạy bộ 24h thì mệt, mà xe máy thì ko đủ tiền mua nên chọn xe đạp ấy mà”.

Vélo 24h có nghĩa là bạn xe đạp xe liên tục trong 24h. Thật đấy. Nhưng đó là luật lệ ban đầu thôi, chứ bây giờ thời đại “hai vai chỉ gánh được hai hạt vừng” thì chúng tôi chơi tiếp sức. Thường thì tham gia vào lễ hội sẽ là các nhóm chứ không phải là cá nhân. Các thành viên sẽ thay phiên nhau đạp từ 10h sáng hôm nay tới 10h sáng hôm sau. Vậy thôi.

Nghe có vẻ bí đao nhỉ, nhưng bạn phải có mặt trong những ngày chuẩn bị và tham gia vào lễ hội bạn mới thấy được không khí cuồng nhiệt “vui hơn tết” ấy tuyệt vời thế nào. Người người nhà nhà trang trí xe đạp muôn hình vạn dạng. Đến mức bạn nhìn vào mà không khỏi à ồ “Đó là xe đạp thật sao”. Xe đạp có thể biến thành ôtô, phi thuyền, thành máy bay, thành ngôi nhà Eskimo, thậm chí thành cái chuồng gà hay cậu chàng bé bự Osterich.

“Hết xảy” từ ai cũng nói trong ngày cả thành phố chìm dưới động cơ hai bánh. Sắc màu rực rỡ, âm nhạc rộn ràng và cuộc sống như mới bắt đầu. Ở quảng trường trung tâm, sinh viên ùa ra tham gia các trò chơi, như trong các hội chợ vẫn thường có. Lũ trẻ đắm mình trong tháp trượt hơi khổng lồ hoặc còn bận vui vẻ với lũ ngựa con cực kì xinh mới được mang tới. Thành phố ngập tràn tiếng cười nói vỡ tan cả ngày chớm đông se lạnh và bài hát của Edouard Priem vang lên khắp nơi

“Louvain-la-Neuve
Tu ne dors jamais la nuit
Tu me fais chanter
Sans m’arrêter
On fête toute l’année
Parfois on pleure en juin
Mais non jamais, jamais je ne t’oublierai”

“Ôi, Louvain – La – Neuve

Chúng ta không bao giờ ngủ

Chúng ta thức trong tiếng hát ngập tràn

Chúng ta hội hè triền miên

Chỉ thinh thoảng dừng vào tháng 7

Sẽ chẳng, sẽ chẳng bao giờ tôi quên”

Như bao kẻ khác, tôi cũng lao ra đường hòa nhịp vòng quay. Tôi từng đứng cả giờ xếp  hàng, ăn thử bánh mì kẹp thịt nướng dòn tan ngay cạnh Place de siences, nơi hội sinh viên đang quay một bé lợn giữa trời. Tôi cũng từng đứng hàng giờ quay phim lại đoạn hỗn chiến giữa các loại xe đạp, xe này đang đi tự nhiên lăn đùng ra…. đổ do cồng kềnh, xe khác đã đè lên ngay tắp lự. Dân đua thì hạnh phúc khoe những kiệt tác sáng tạo của mình, chủ yếu là diễu hành hơn là thi thố, chủ yếu là đoàn kết nhau lại vui chơi, hơn là giải thưởng. Chưa bao giờ tinh thần sinh viên lại cao ngút trời như vậy.

Nếu ban ngày đã tuyệt, ban đêm còn gấp trăm lần, ở Grand place và Place des Sciences, các DJ và nhóm nhạc được điều động tới. Chúng tôi hò hét và nhảy những điệu không giống ai. Tôi hết chạy từ place này sang place khác để hòa cùng đám đông, dù đôi lần giữa đường chúng tôi có dừng lại mua frite, waffle và đặc biệt là bia. Bia phải rồi, bia ở khắp nơi, chỗ nào cũng có. Bia trong các tét bia nhôm cực lớn, đủ các loại, đủ các độ, mát lạnh trong đêm tháng 10 kì diệu. Có kẻ nói đây có thể coi là lễ hội bia lớn thứ 2 châu âu, chỉ sau Oktoberfest, quả không có sai.

Tôi mặc áo phông “Em yêu Hà Nội” đi tung tăng, bao nhiêu kẻ xa lạ cũng vẫy tay chào hỏi, cùng uống bia, trêu đùa và hò hét “Jahoo” (chiến thắng theo tiếng Ấn Độ) cổ vũ những kẻ đạp xe hừng hực. Chúng tôi  không chỉ uống một mà tới cả chục cốc bia tươi, hết kẻ này mời lại tới người kia gọi. Cứ thế, sinh viên đi dọc thành phố, tay cầm bia, tay kia khoác vai đồng bọn, miệng nghêu ngao hát.

Nửa đêm, pháo hoa vụt sang lên trên bầu trời Louvain la neuve, tôi quay sang lũ bạn, này Arnab, Vengat, Alex, Saru, chúng ta thật may mắn khi có những giây phút tuổi trẻ thế này, không phải quá tuyệt vời sao. Chúng ta phải tận tưởng và hạnh phúc. Tôi quay sang ôm thật chặt, không phải một đứa bạn của mình mà một cô gái treo biển Free hug, cô ấy thật thông minh và xứng đáng có một cái ôm nồng ấm. Tôi lại quay qua phía bên kia đường, có những kẻ vẫn mải miết đạp xe như tôi mải miết theo đuổi giấc mơ của mình

“Bon courage” tôi hét lên cho họ và cho cả mình. Phải rồi, bánh xe thời gian đang quay bất tận, lướt qua những cánh đồng ước mơ, từng cánh đồng một, đôi lúc nó vô tình đè nát vài điều quan trọng, nhưng rồi sẽ tới ngôi nhà hạnh phúc thôi. Thật đấy.

La quinzaine

Chúng tôi nhận được cái tin nhắn thế này từ Pierre-Edouard vào ngày 8/2/2010

“Salut,

Ca vous dis une petite quinzaine le 18 février?

P-E”

“Hey, chúng mày có mún tham gia 1 cái quinzaine nho nhỏ vào ngày 18/2 không?”

Ái chà chà lại ăn chơi đây, nhưng…..tôi với Alex quay sang nhìn nhau “quizaine là cái quái gì vậy?” tôi hì hục tra từ điển “quinzaine” nghĩa là 2 tuần, chúng tôi ngao ngán thở dài, đến chịu anh chàng Pierre. Tôi kể chưa nhỉ, Pierre-Edouard Hacher I là cả 1 huyền thoại sống vì sự sớm nắng chiều mưa giữa trưa tuyết, nói chính xác là rất khó chiều cái tính tình kì cà kì cục của cậu chàng, nhưng đó là cậu bạn rất khá, chơi ra chơi, làm ra làm, cực kì.

Sau một hồi loay hoay, chúng tôi cũng phát hiện ra La quinzaine là nghĩa là lễ hội bia 2 tuần liên tục tại Louvain la neuve. Thật không ngờ, tôi quả là may mắn, sống ở xứ Bỉ nơi bia nhiều hơn nước lọc và ở ngay chính vựa bia của nó.

La quinzaine được ra đời do những sinh viên ham bia thích tiệc tùng của Louvain la neuve. Lễ hội này không chính thống như 24h vélo, tức là không có chuyện phó hiệu trưởng cũng tham gia, thành phố nhộn nhịp cờ hoa, mà chỉ là lễ hội truyền miệng giữa các sinh viên. Cứ về đêm, mọi người lại rỉ tai nhau “Này đi uống bia nhé” vậy là lôi nhau đi uống bia, cứ đêm nào cũng uống trong vòng 2 tuần. Thế là xong.

Nơi tụ tập thì khác thường hơn 1 chút, nếu ngày thường uống bia thì theo nhóm nhỏ thì nay là nhóm lớn, hội bia được chuyển từ trong nhà ra ngoài ngõ, trong quán bar sang trọng ra những club lớn bẩn thỉu. Tiêu biểu là MDS- maison des sciences (ngôi nhà khoa học), xin đừng hỏi tôi vì sao ngôi nhà khoa học lại được mang ra làm nơi rượu chè đình đám nhé, thật sự tới giờ tôi cũng không hiểu. Bia và khoa học có thể sống chung một mái nhà là tôi vui lắm rồi. MDS đơn giản là một ngôi nhà, không hơn không kém, tức là không bàn ghế, không phòng này nọ, chỉ có 1 phòng lớn, nhạc ồn ào, một quán bar với khoảng 200 loại bia mà nhìn bảng chữ nhỏ din din tôi đã hoa cả mắt. Tới chóng cả mặt khi thấy lượng người đổ vào ngày một đông. Trong khi tôi  nhảy nhót và tận hưởng cố bia mát lạnh của mình, thì từ đâu một anh chàng say xỉn đi thẳng tới góc tường tôi đang đứng và tự nhiên ……..tường đè. Tôi chút thì khóc thét nhưng vẫn giữ mình vững vàng uống nốt cốc thứ 3 rồi, cố gắng chen khỏi biển người để sang sàn disco bên cạnh.

Chỉ tới khi nhớ ra buổi học sớm mai, tôi mới nối tay lên vai Pierre như kiểu làm đoàn tàu, để cậu ta lao vút qua đám đông cho tôi ra ngoài, cậu ta bảo không làm thế chắc chắn tôi sẽ bị đè bẹp. Tôi hít lấy hít để không khí đêm trong lành và lết về nhà hơi ngà ngà lúc 2h đêm trong khi tụi bạn còn ở lại tới sáng.

“Này hôm qua thật hi hữu trong lịch sử, tôi nhìn thấy vô số các cô gái ngồi tè bậy dọc đường” Arnab hớn hở khoe tôi ngày hôm sau

“Thậm chí có 2 cô nàng ngồi che cho nhau nhưng lại che ở phía sau, haha” Alex tiếp lời

“Chúng mình thật quá tử tế khi đi ngang qua còn khuyến khích các cô nàng cứ tự nhiên” Arnab cười không thôi

“Trời ơi, tôi thật sự tiếc về đã về nhà sớm” tôi giả vờ khóc lóc. Sinh viên là thế, họ hò hét, nhảy múa, họ uống bia và tè đường. Gái thì ra đường, trai thì cứ tự nhiên ngay tại sàn disco. Chuyện đó cũng bình thường như ngày hai bữa. Sáng hôm sau cả thành phố bốc mùi nồng nặc, xe tải nước phải đi phun nước rào rào. Cứ thế 2 tuần tôi đi qua Place des Sciences với cái tay che mũi. Thật kinh khủng và vui khủng khiếp.

La quizaine với bia, những điệu nhảy và bạn bè, chưa bao giờ tôi thấy thời sinh viên của mình sống động tới vậy, nhất là khi ở Ý tôi suốt ngày nằm nhà mơ mộng. Hội hè vẫn cứ triền miên.

 

Tôn giáo bia và hội hè liên miên (P1)

Bia là tôn giáo

Đại loại thế này, có một ngày đẹp trời, một trong những cậu bạn tôi quen, để status trên facebook: “Perfect day: shopping in Amstelveen Center, and now drinking beer while watching MU vs. Arsenal!!!”,

Có 3 kẻ nhảy vào comment:

Kẻ đầu tiên là một cô gái:  “Thế hôm nay cậu đi mua được gì?”

Kẻ thứ hai là một chàng trai: “trận này hai đội đá chán quá”

Kẻ thứ ba là tôi : “Uống Amstel à?nhớ Hà Lan và bia”

Status có 3 thông tin và khán giả đánh đúng cả ba hướng, nhưng chỉ tôi tìm tới chất men. Không phải tôi nghiện ngập gì đâu đấy, chỉ là tôi cũng thích và chịu uống bia thôi. Tôi uống bia ở bất kì nơi nào tôi tới.

Phải thừa nhận sống ở Bỉ một năm và cái xứ bia ấy tôi luyện tôi nên người. Trong vòng 2 tuần đầu mới sang, tôi háo hức tới mức gần như mỗi ngày tôi được thưởng thức một loại bia, thậm chí tôi còn mang cái mong ước “thầm kín” là có thể uống hết các loại bia Bỉ cho anh chàng Arnab bạn tôi nghe. Anh chàng cười khoái trí: “Cậu phải uống mỗi ngày 1 loại thì mong rằng sau 1 năm có thể uống hết các loại bia Bỉ”, thế là tôi bỏ cuộc. Đúng là một sự lựa chọn khôn ngoan bởi tôi đâu ngờ thực tế ở Bỉ có tới khoảng 8700 loại bia,

Ở xứ Bỉ, bia được coi là một thứ tôn giáo và trung bình mỗi năm các tín đồ này uống khoảng 93 lít. Tôi còn nhớ như in hồi mới sang, tôi không khỏi ngỡ ngàng khi thấy sinh viên xứ này vác hàng két bia Jupiler đi giàn hàng ngoài đường khi đã khuya. Họ uống bia say sưa khắp đường vào lúc 12h đêm cũng không có công an tới hỏi thăm. Bởi đơn giản, ở Bỉ uống bia là nét văn hóa không thể thiếu. Sinh viên thường gia nhập những hội “phát cuồng vì bia”, họ đội mũ gắn sao trên đầu, dĩ nhiên khi level càng cao, sao sẽ càng nhiều. Họ uống bia trong bữa tiệc, uống bia trong quán bar, uống bia trong sàn nhảy, uống bia khi ngồi nghe guitaire ngất ngay ở “Lundi de la guitaire” hay thậm chí uống bia ngay trên đường phố.

Mấy anh bạn người Bỉ của tôi còn dõng dạc tuyên bố “Ngày bé chúng tôi uống bia thay sữa”.

“Vậy có lẽ chảy thứ trong huyết quản của dân Bỉ là bia chứ không phải máu” Tôi chọc lại. Có lẽ vì vậy mà các cậu bạn ấy hay rủ tôi ra quán.

Mùa đông cũng như mùa hè, các quán bia luôn đông đúc nhộn nhịp như các quán kem ở Ý vậy. Đặc biệt khi hè sang, bàn ghế được bày la liệt ngoài sân, người dân thỏa chí họng ngọt bia và vai ngọt nắng. Hè vừa rồi, những đêm trái bóng World cup hoành hành sân cỏ Nam Phi, bất chấp kì thi, cũng có một con nhóc quần cộc áo phông cắm mặt vào các quán bia hò hét không ngừng nghỉ. Chúng tôi hay tụ tập ở Brassie một quán bia xinh xắn nằm ngay Place L’Université là quảng trường trung tâm của thành phố để cổ vũ Mexico của anh bạn Alex. Trong khi đa phần người dân thành phố đổ ra Grand place ngả người trên những chiếc ghế dài dưới những cái ô màu sắc tay (bởi đơn giản đêm hè 10h trời vẫn sáng như ban ngày), cầm chắc nịch một chai bia mát lạnh và hò hét sung sướng khi những chú gà Gaulois bại trận. Năm nay “Qủy đỏ” Bỉ không được vào vòng chung kết nên niềm vui của dân Bỉ chính là sự thất bại thảm hại của kẻ hàng xóm đáng ghét. Tôi cũng không hiểu vì sao dân Pháp và dân Bỉ cùng chung một thứ ngôn ngữ lãng mạn mà lại thù ghét nhau vậy. Theo lời chị Vy có chồng là dân Bỉ thứ thiệt thì “dân Bỉ ghét dân Pháp bởi dân Pháp coi dân Bỉ là mọi”. Có lẽ họ ghét nhau, cũng như tôi ghét tụi Tàu vậy. Nhưng thôi, không bàn tới chuyện thù ghét, hãy bàn tới tình yêu với bia Bỉ thôi.

“Tình yêu” của tôi ấy à, nó bắt đầu từ đêm thứ 3 tôi ở Bỉ. Đêm đó anh Greg và chị Hiền dẫn tôi tới một quán bia tuyệt vời, quán này cũng là nơi tôi uống mừng sinh nhật 24 của mình, nên khó có thể quên nổi. Trời hè mát mẻ, chúng tôi ngồi ngoài quảng trường tận hưởng làn gió hiu hiu thổi qua đầu lưỡi vị ngọt ngào của Kriek làm từ quả frambois (quả mâm xôi). Gọi là bia nhưng chẳng phải bia, Kriek như thứ nước quả lên men hơi quá, nhè nhẹ, ngòn ngọt, chua chua, tôi không khoái chút nào. Vậy nhưng trong những bữa tiệc của làng Louvain chúng tôi, Kriek lúc nào cũng được diễm phúc mua cả két, để phục vụ các chị em phụ nữ. Riêng tôi được các anh gọi là “thanh niên Mai Thanh Nga” nên hay được ưu ái cho uống bia nặng đô hơn chút. Thường là thứ bia học sinh sinh viên Jupiler, được ưa chuộng bởi cũng không quá tồi lại hợp túi tiền. Nếu là anh Dũng Kiều thì anh sẽ cho tôi uống bia trắng, còn nếu anh Hòa thì có thể dúi cho tôi chai Leffe. Nói chung các anh làng Louvain toàn là những người sành bia tuyệt hảo, chứ không như tôi chỉ biết uống là uống.

Còn về cái sự tích vì sao tôi được gọi là “Thanh niên”, đơn giản như đan rổ, vì có lần tôi sực nguyên 5 chai Stella Artois tại quê hương loại bia này – Leuven. Trong giải bóng đá sinh viên Bỉ, đội bóng làng có chuyến công du tới Leuven, tôi cũng đi theo trong ban cổ vũ. Đội bóng chúng tôi vô địch nên dĩ nhiên ăn mừng là không tránh khỏi. Cái thủa ấy tôi còn chưa biết thưởng bia là gì, với lại Stella Artois cũng là loại phổ cập, nhẹ hều, ngon hơn Jupiler chút đỉnh, nên tôi làm 1 lèo 5 chai 100% với mọi người theo đúng phong cách “gái bách khoa, hoa chuyên toán”. Thế là cái tên “Thanh niên Mai Thanh Nga” được giật tít trên hòm mail chung của làng ngay sáng ngày hôm sau và nó còn theo tôi tới tất cả các bữa tiệc sau này. Thậm chí tin đó còn được truyền về tới tận tai mẹ tôi, làm tôi điêu đứng hình ảnh đứa con ngoan.

Nhưng không thể trách Stella Artois được, tôi cũng có duyên với Stella Artois lắm lắm bởi cô bạn thân Ngân của tôi sống ở quê hương của nó. Có lần sang chơi, tôi nằng nặc đòi Ngân dẫn tới hàng bia nổi tiếng ở đây là Domus. Báo hại cô nàng dò khắp hang cùng ngõ hẻm mới ra, để dắt tôi và chị Dương vào thử. Domus có ngoài tầng chính còn có thêm một tầng hấm và tầng hai vừa là nơi cho thực khách thưởng bia vừa là nhà hàng luôn. Kế bên đó còn có nguyên một khu chuyên sản xuất bia mà phải đặt lịch chúng tôi mới được vào tham quan. Tôi thích cách trang trí cổ điển ở Domus, chỉ nhìn cách bài trí quán bar, bàn ghế thôi là cũng đủ thấy bia ở đây ngon rồi. Huống chi ở Domus, bia home-made lại thơm nức mũi. Tôi sà vào thử ngay Cristal, chị Dương thử một loại bia trái cây giống Kriek còn Ngân thử món bơ quện rượu béo ngậy. Cristal trong veo, nhẹ nhàng, không thực sự đặc biệt nhưng món bơ thì khó quên. Cả ba chúng tôi đều ngất ngây hài lòng, không bõ công tìm quán cả buổi. Chỉ có điều nếu có anh người Việt nào nhìn thấy thì chúng tôi sẽ bị đánh giá ngay và có nguy cơ không lấy được chồng, biết đâu đấy.

Do vậy đi uống bia chủ yếu tôi đi cùng tụi bạn “lẩu thập cẩm” của mình. Tối thứ 6 hàng tuần, Arnab cậu bạn thân người Ấn Độ của tôi thường nhắn tin rủ cả lũ đi uống bia để chia tay 1 tuần học vất vả. Quán bia ruột của tụi MERIT chúng tôi là Jazzaia, một quán bia nằm trong con đường nhỏ lúc nào cũng đông nghịt người và khói thuốc. Chúng tôi hay leo lên tầng hai nơi có những chiếc ghế sofa to bự để ngả người khoan khoái thưởng bia và lắc lư theo những điệu nhạc jazz. Tôi hay gọi cho mình một ly Leffe brune (bia nâu) với vỏ ngoài bắt mắt, khoảng 6 độ, độ men vừa phải mà có vị hơi đắng lạ miệng. Chengsui cậu bạn người Trung Quốc cũng hay theo tôi, nhưng cậu ta uống Leffe blonde từng giọt vàng sóng sánh, nồng độ nhẹ hơn một chút và vị cũng dễ chịu. Alex thì  thích Duvel với vỏ chai lùn xỉn xấu xí, nhìn khá thô ráp giống y anh chàng này. Duvel chứa thứ chất lỏng nâu nhẹ, vị nồng, và dĩ nhiên là nặng đô, khoảng 8 độ, dễ làm lòng người say đắm. Cô nàng Mirea dân Tây Ban Nha chịu chơi cũng hay uống Duvel, đôi khi cô ấy uống Leffe với tôi, nhưng cô ấy thích tu chai hơn là uống từ cốc. Có lần cô ấy say liêu xiêu và ngông cuồng muốn đọ sức uống với anh bạn-lúc-chưa-là-bạn trai Arnab. Tôi vốn khoái xem cá độ nhưng khi nghe hình phạt là nếu thua là cô ấy sẽ phải hôn…… tôi, tôi sợ xanh mắt, liền ra tay ngăn cản. Cô ấy dám liều mình thế vì nghĩ Arnab uống loại bia mạnh hơn, dễ xỉn trước. Đơn giản là anh chàng thường thích uống Grimbergen blonde, chai bia lùn mà rất phong độ với thiết kế bìa đẹp mắt và vị cũng không chê vào đâu được. Grimbergen tương đối nặng, chừng 7, 8 độ, thơm ngon tuyệt đối, nhưng không hiểu sao tình yêu với Leffe làm tôi khó dám phản bội nó.

Nhưng cũng đôi lần tôi phản bội “tình yêu” của mình, với Guiness một loại bia đen của xứ sương mù với vị đắng chát. Vị bia này cũng khá hay, rất đáng thử. Thú vị là chính nhà máy bia Guiness này là kẻ đã khởi xướng nên kỉ lục Guiness, theo như tôi đọc được từ cuốn sách trẻ thơ “Biết tất tần tật chuyện trong thiên hạ”. Thông thường ở quán bia Bỉ ít thấy Guiness, tôi chỉ có cơ hội làm quen với “anh chàng” khi lũ chúng tôi vào quán rất Ăng lê – Cambridge để làm chầu hai sau khi đã no nê Chimay từ bữa tiệc tất niên. Thực ra tôi gọi Guiness theo sự gợi ý của cậu bạn Nepal ,Amit – đó là kẻ mà tôi vẫn thường nói “genius but annoying” nhưng tối đó anh chàng không hể khó chịu tẹo nào. Khi nhấp tới Guiness ,cậu ta có vẻ xỉn, kể hết chuyện tình của mình lại bắt những kẻ khác kể theo. Chengsui với mối tình ngốc nghếch những năm cấp 2, Alex với mối tính éo le năm đại học, Amit với hành trình chinh phục hoa hậu Nepal, còn tôi ư, tôi ngồi nghe nhiệt tình, uống nhiệt tình, hết Guiniess lại sang Corona – một loại bia phổ biến của Mexico. Do Alex sau khi kể chuyện tình, cậu ta đâm ra nhớ quê hương nên gọi Corona. Corona nhìn rất tinh tế và ngon mắt với vỏ chai trong suốt lộ màu bia vàng óng ánh kèm theo lát chanh trên miệng chai. Tôi cũng bắt chước Alex uống Corona vắt chanh đúng điệu Mexico. Vị chua của chanh hòa quện cùng vị đắng ngắt của Corona đem lại vị ngọt mát, đúng là rất hợp cạ. Sau này, khi đi vài thành phố xa lạ mà băn khoăn không biết gọi gì, tôi hay gọi Corona như một thói quen.

Có lần khác, tôi phản bội em Leffle của mình khi tới Brasse temps – đây là quán bia tươi duy nhất ở Louvain la neuve. Brasse temps nằm cheo leo trên tầng 2 nhìn ra Rue de Wallons ngoằn nghèo. Quán được trang trí những hình yêu tinh cây vui mắt cùng những thùng nhôm bia to bự để quáng bá cho thứ bia tươi hảo hạng ở đây. Lần đầu tôi tới Brasse temps, tôi đã thử ngay loại Bush đặc biệt, uống 1 lúc liền 4 ly, mỗi ly một độ từ 3 độ, 5 độ, 8 độ, 10 độ, kiểu uống này rất dễ ngấm, mang tới một cảm giấc lâng lâng thích thú. Nhưng sau lần chịu chơi đó ,tôi không lần nào dám bén tới giới cao cấp ấy nữa, chỉ dám nhâm nhi những cốc Bush tươi mát 5 độ phổ cập, ngon và mát, uống tới đâu biết tới đó. Ở Brasse Temps, đặc sản là chai Bush 11 độ, cái chai quái chiêu đó thường khiêu chiến mắt tôi, nhưng tôi tự biết mình biết ta nên không bao giờ phạm thượng. Hãy cứ tự thương mình với chai Leffle brune là đủ rồi.

Thật tuyệt khi rót những dòng bia nâu óng xuống chiếc ly bự rồi từ từ nhấp từng ngụm bia mát lạnh, đắng miệng nhưng ngọt họng. Kiểu thưởng bia này tôi rất khoái, uống bia trong không khí tràn ngập nhạc, lại hơi có chút khói thuốc bạc màu.  Không như ở nhà mỗi khi đi uống bia thường kèm theo bao nhiêu đồ nhậu làm loãng hết vị bia, đã thế cái kiểu “dzô dzô” xô bồ náo nhiệt và cụng ly 100% tanh tách làm tôi vui phát sợ. Dân tình không phải đi uống bia vì muốn thưởng bia, mà chỉ để bạn bè “giết” nhau, đối tác kí hợp đồng, để cho câu chuyện thêm xôm, hay đơn giản nhất là để giải sầu. Nhưng như thế thì vừa hao bia và hỏng gan. Vô tình như vậy, nếu tôi nói “tôi thích uống bia” thì sẽ bị quy là bợm nhậu theo chiều hướng “cô gái này hỏng hẳn rồi”, còn nếu tôi nói “tôi thích uống cafe” thì sẽ được nghĩ là “cô ấy thật sâu sắc đa cảm”. Không hiểu tới bao giờ thì người ta mới có khái niệm đi uống bia cũng nhẹ nhàng và thanh cảnh như đi uống café, đơn giản là nhâm nhi và thưởng thức. Qủa là oan uổng cho “anh chàng bia” và oan cho cả những ai muốn thưởng bia.

(Còn tiếp)

(Kỉ niệm những ngày nhớ Bỉ)

Tháng năm Louvain la Neuve

Khi đàn ngựa trở về

Lũ chim cũng ùa mình trên cành táo

Nhà mái ngói ấm nâu lên trong nắng

Và cánh đồng rực rỡ hoa vàng

Bỗng chốc

Hoá bồ công anh

Chông chênh trong gió.

 

Em, vẫn đan ngón tay trong tóc

Dệt sợi tơ hy vọng trong khung cửi thời gian

Bắt tia nắng của ngày sắp mới

Gọi tháng Năm tràn về.

 

Con đường lại rả rích mưa

Cánh đồng lại bát ngát gió

Em, dần xa ngôi nhà mái nâu ấm mình trong nắng

Thấy nhớ thương như mảnh đất của mình

Em, còn bao giờ trở lại?

Cứ lang thang như bồ công anh

Chông chênh trong gió

Thuơng về những tháng Năm …..

Đau đầu vì miếng ăn

Khi tới một đất nước mới tức là bạn đang gia nhập vào một hệ thống ngôn ngữ mới, một nền văn hoá mới, và một cơ hội tìm hiểu mới được mở ra.

Mỗi tối ngồi nhà, sau khi mệt mỏi với những bài tập lớn nhỏ, tôi lại nghĩ “sao mình lại chỉ luẩn quẩn ở cái xó này mà không lao ra ngoài kia, thở cùng nhip đập thành phố”. Thế nên cứ có cơ hội là tôi lao vào như con thiêu thân tìm thấy ánh đèn nơi đồng quê. Không mang theo mình nền tảng văn hoá dày dặn, tôi trang bị duy một bộ lọc, để biết nên và không nên tham gia thứ gì. Sau 6 tháng ở xứ người , dường như Wikipedia của tôi đã dày lên đáng kể, đặc biệt là về cái sự ăn.

Hàng ngày vật lộn trong cuộc chiến “Ăn hay không ăn”, tôi đâm ra phát mệt. Bỏ qua khái niệm cân nặng tôi lao vào thưởng thức “văn hóa” không tiếc mình. Sau 1 năm tăng 6kg thì tôi đã biết thức ăn đế quốc ngon miệng mà đau lòng tới thế nào, nhưng đó là những miếng ăn khó có thể cầm lòng.

Đến Bỉ, không ăn Waffle, không ăn Frite, không ăn chocolat, không uống bia Bỉ, đừng nói là bạn đã đến Bỉ.

Waffle thực ra không phải quá xa lạ với người Việt, bởi bạn cũng có thể thưởng thức loại bánh này ở vài tiệm ở Hà Nội. Tuy nhiên ở Bỉ thì có nhiều khuôn dạng, hình thức hơn để chọn lựa

Có thể là waffle liege nhẹ bỗng hình chữ nhật, hay waffle bruxelles dạng hình vuông tròn góc, hoặc loại waffle mặn hình tròn xoe. Phải nói rằng loại bánh này khá đơn giản, nhưng nếu ăn kèm cùng kem tươi hoặc sôcôla nóng kèm theo vài lát dâu tây mọng đỏ thì tuyệt vời. Với thời tiết mưa gió của Bỉ, mỗi lần đi qua hàng Waffle khó ai kiềm nổi lòng mình được khi ngửi thấy mùi thơm ngọt ngào của đường sữa từ những khuôn nướng. So với Crêpe của Pháp thì tôi khoái Waffle kem của Bỉ hơn nhiều.

Tất nhiên nếu bạn không khoái đồ ngọt thì có thể chọn lựa những loại waffle mặn. Waffle mặn có phần phong phú hơn loại ngọt bởi nhân bên trong có thể là thịt gà, thịt lợn xông khói, pho mát,hay thịt gà tây. Tuy nhiên nhược điểm của waffle mặn thường là không có nhiều rau củ nên ăn nhanh ngán, lần đầu tiên nếm, mặc dù cực kì hăm hở, nhưng tôi cũng đành “giữa đường đứt gánh” (hình trên)

Mặc dù Waffle hấp dẫn thật đấy, nhưng niềm tự hào lớn của Bỉ phải nói tới khoai tây chiên hay Frite. Nếu ở đây mà bạn gọi là French fries thì bạn chết chắc, bởi dân Bỉ coi đây như là một thú ẩm thực của họ. Ở đây có những hàng thậm chí chỉ bán mỗi loại mặt hàng này, thường được gọi là Friterie. Ở Friterie, bạn dễ dàng mua được những phần khoai tây chiên nóng giòn, vàng ươm, được phủ lên 1 lớp muối mỏng. Cũng như thế nhưng ở Hy Lạp thì sẽ là 1 loại lá cây rất lạ thay vì muối, ăn cũng gay cấn không kém. Thế nhưng nếu ăn frite nguyên bản như thế thì khác nào thịt chó không có mắm tôm. Việc ăn kèm frite cùng sauce đúng là một phát minh của nhân loại.

Tuy nhiên để lựa chọn 1 loại sauce hợp ý cũng đau đầu nhức óc đấy, bởi ở đây có khoảng hơn chục loại sauces khác nhau. Loại đơn giản và thông dụng nhất là ketchup và mayonnaise. Phức tạp hơn 1 chút là các loại sauce được sáng tạo từ mayonnaise như sauce Brasil có màu nghệ đậm với vị hơi ngọt, sauce Barbeque màu da cam nhạt hơn có vị giềng, nhạt hơn chút nữa mà chua là sauce Cockail (thường dùng cho salad hoa quả), sauce curry thì màu vàng đậm hơi cay cay, rồi sauce Adalouise và nhiều loại nữa mà chỉ kể tên đã thấy ngây ngây nơi đầu lưỡi. Ở những quán Friterie thân thiện, nếu bạn ú ớ thẫn thờ đến loá mắt trước danh sách các loại sauce, thì các anh chàng bán hàng dễ thương sẽ cho bạn thử để chọn loại yêu thích nhất. Tự nhiên chột dạ không biết mình tới Friterie vì frite hay vì mấy anh Bỉ đẹp trai đến ngỡ ngàng.

Tôi có thói quen ăn uống phải dành miếng ngon cho phút cuối, để tận hưởng được hết cái viên mãn được ăn miếng ngon. Thế nên sau những waffle, frite mới là chocolat.

Thật tuyệt khi được sống ở xứ Bỉ khi mà ra siêu thị giống như Charlie rơi vào nhà máy chocolat. Ở đấy bạt ngàn chocolat các loại, loại có sữa, loại không sữa, loại đắng, loại nhân rượu, loại nhân chocolat lỏng, loại nhân hoa quả, nhân hạt nhân, với vô vàn các thương hiệu khác nhau. Nếu muốn ăn vừa túi tiền mà vẫn ngon thì có Côte D’or và Jaques, vừa hấp dẫn về giá cả, nội dung, lại cả hình thức. Hồi đầu mới sang tôi nghiện Jaques rồi Côte D’or nhân hạnh nhân, nhưng bây giờ khẩu vị có phần cao cấp lên. Tầm cao đã lên tới Truffle của Delhaize, loại chocolat này thú vị với vỏ ngoài là vụn chocolat, bên trong là chocolat mềm, ăn có cảm giác mềm mại, nhẹ nhàng, thật dịu dàng.Mỗi lần đưa miếng Truffle vào miệng, lòng tôi lại rưng rưng như khi xưa cụ Nguyễn Khuyến rơi đũa vì miếng lòng cá quả.

Tiếp sau Truffle, đến với thế giới của tôi là Galler dạng thanh,vỏ ngoài là chocolat cứng, bên trong là chocolate lỏng có thể có vị hạnh nhân, hoặc chocolate đắng, hay chocolate trắng. Galler có phần hơi đắt tiền một chút, nhưng cực đáng đồng tiền bát gạo. Rồi với tính tò mò tiểu tư sản, tôi đã mò mẫm lên tới chocolat artisan (là loại fresh và chỉ có ở các cửa hàng chocolat truyền thống), cần kể tới là Leonidas và Royal Corner. Bước chân vào Leonidas là bạn không muốn bước ra bởi hoa mắt với vô vàn kiểu dáng, màu sắc, hương vị. Dù có xót lòng một chút nhưng chưa bao giờ đi qua mà tôi không bước vào, chưa bao giờ bước vào mà không mua, chưa bao giờ mua mà không xử ngay tức khắc, bởi những praline, chocolat au champagne…. cứ níu bước chân kẻ hảo ngọt.

 

Say sưa cùng Brugge

Tôi có cô bạn học 4 năm ở Bỉ, khi biết mình sắp sang đây du học, tôi hỏi “Ở Bỉ có chỗ này hay để đi không mày?” “Có, nếu muốn ngắm cảnh hãy đi Brugge”. Và thế là ngay trong tuần thứ 3 ở Bỉ, tôi quyết định đến với Brugge. để năm sau còn có mốc mà so sánh với Venice – Brugge phương nam.

Mặc dù ngày hôm trước khi khởi hành trời đổ mưa liên tục, dự báo thời tiết cho thấy còn mưa trong vài ngày, nhưng cái thú ăn chơi đã lên thì tôi vẫn khăn gói lên tàu làm cuộc hành trình 2 tiếng đến với Brugge, hơn nữa chuyện mưa gió ở cái xứ Bỉ này đơn giản như ngày 2 bữa cơm. Trong 2h chờ đợi ấy, không hiểu tôi đã mơ màng cỡ nào, tưởng tượng Brugge sẽ xinh đẹp thanh lịch thế nào. Nhưng đã là tưởng tượng thì dễ bị vỡ mộng vô cùng.

Bước xuống sân ga, tôi gặp ngay những chuyến xe bus ra vào thành phố, kế bên là một đại lộ ôtô qua lại nườm nượp, tôi ngẩn người “Ơ Brugge lãng mạn lắm cơ mà”. Thế đấy đến  chết tôi cũng không bỏ được cái tính thiếu kiên nhẫn. Tôi dường như quên mất rằng thành phố xinh đẹp này là một điểm du lịch hấp dẫn nên đương nhiên xe cộ bên rìa trung tâm phải ra vào như mắc cửi.

Nếu bạn có chợt đặt chân đến đây, thì hãy cứ từ từ tận hưởng không khí mát mẻ của khí trời Brugge, hãy cứ từ từ dấn chân vào công viên Minewater ở đối diện, để thấy từng hàng cây nối nhau thằng tấp khoả lấp những con đường bé nhỏ ven theo những con kênh. Đi Brugge vào mùa thu là thật không gì tuyệt vời hơn, cây cối đang mùa thay lá, những lá xanh lá vàng chen nhau trong nắng, rọi xuống bên sông nước êm đềm.

Phải nhìn vào bản đồ thành phố mới thấy hết sư chằng chịt của sông ngòi nơi đây. Những con sông, con kênh nhỏ bé, thi nhau uốn cong bao quanh cả thành phố. Mặc dù sông rất bé, nhưng người dân ở đây xây dựng cầu bắc qua sông với những ngọn tháp vươn lên rất kiên cố, phức tạp, và tinh xảo. Trên mặt nước từng đàn vịt cổ xanh tổ chức đua seagame cùng thiên nga trắng, bên cạnh những triền sông phủ đầy lá vàng và hạt dẻ.

Đi sâu hơn một chút, qua con đường vành đai, bước vào bên trong bức tường thành là đã tới trung tâm du lịch của Brugge. Trong trung tâm, nhà cửa mang tông màu trắng xen kẽ màu gạch đỏ được xây dựng từ hàng trăm năm trước. Hầu hết các ngôi nhà này đều là những hàng quán nhỏ với những biển gỗ đen được viết chữ khá cầu kì. Các quán hàng la liệt sản phẩm thủ công truyền thống là tranh thêu, hoặc đăng ten. Những bức tranh nhiều màu sắc thực sự cuốn hút tôi, bởi không chỉ có các tranh tự sáng tác của hoạ sĩ xứ này mà còn hoạ theo nhiều tác phẩm nổi tiếng như bức The kiss của Gustav mà tôi khá thích.

Phải công nhận rằng kiến trúc ở Brugge mang đậm kiến trúc của dân Hà Lan, vì đây là vùng nói tiếng Hà Lan (Flander), dân vùng này nói tiếng Anh rất tuyệt, chứ không ì ạch như dân vùng Wallonie (câu này mà phát ngôn ở LLN thì dễ về thẳng Việt nam theo đường cứu thương như khi bạn vào 1 quán Friterie ở bất kì thành phố nào của Bỉ , hỏi mua khoai tây chiên mà dám nói Frech fries thay vì frites hoặc đơn giản là fries).

Khách du lịch tới Brugge có thể đi ngựa dọc theo thành phố. Những bác xà ích cao lớn rong những cỗ xe gỗ với những tuấn mã phong trần làm cho Brugge trở về với châu âu sặc mùi bá tước. Rong ruổi trên xe ngựa các ngả đường, ngắm nhìn các toà nhà, đặc biệt là quá nhiều nhà thờ lớn nhỏ với bề ngoài rất đẹp , mới thấy Brugge sùng đạo thế nào. Khách du lịch cũng có thể chọn cách ngồi thuyền lả lướt theo sông. Cách đi này có phần giống với gondola của Venice, nhưng thuyền ở đây là thuyền máy, chở nhiều người, và không có những anh chàng bảnh bảo chèo thuyền hát phục vụ. Nhưng cách đơn giản và tuyệt vời nhất để khám phá nơi đây vẫn là đi bộ. Bởi nếu đi bộ, bạn có thể dễ dàng đưa chân vào những con đường nhỏ lắt léo trong lòng Brugge. Các con hẻm chỉ rộng đủ một giang tay, chỉ cần đưa tay ra là đã cảm nhận được những tường gạch nhấp nhô của những căn nhà cao ngất hai bên hẻm. Trong lòng hẻm hàng quán vẫn hoạt động, nhưng hàng quán thường đóng cửa im lìm, khách tới thì tự động mở cửa vào. Vì thế không gian yên tĩnh của hẻm vẫn được giữ nguyên.

Đến Brugge trong một ngày mưa, tôi không khỏi giật mình khi thầy mình bị thi vị hoá. Để tránh bản thân không rơi vào tình trạng mơ mộng, để rồi bất mãn khi quay về cuộc sống học hành vào ngày hôm sau, tôi quyết định thoát ra bằng cách uống một lon bia Leffle. Không phải bia Leffle chỉ có ở Brugge, và cũng không phải chỉ tới Brugge tôi mới uống bia, nhưng không hiểu sao uống Leffle ở Brugge lại dễ làm tôi gục nhanh chóng. Bình thường tôi có thể uống một chai Leffle bleu 9 độ mà chỉ hơi choáng váng, vậy mà lần này chỉ uống Leffle blonde 7 độ, tôi lại dễ dàng mơ màng. Có lẽ không phải do bia, mà do đất trời Brugge đã làm say lòng tới thế.