Berlin – nỗi nhọc nhằn của người Do Thái

Cách đây 2 tháng thằng em trai của tôi lên đường qua Đức học master. Khi chia tay, chồng tôi hẹn với thằng em vợ “Hẹn gặp ở Berlin nhé”, rồi nào là “Berlin phải đi chứ”, “Đi xem nước Đức thế nào”. Chỉ vì có thời rảnh rỗi, ảnh ham hố học tí tiếng Đức rồi mơ về 1 nước Đức khổng lồ nên cứ ham hố muốn đi. Đôi lần ảnh với thằng em hỏi tôi “Sao đi đủ nước rồi mà Berlin lại không đi”. Tôi bảo tôi có định kiến về nước Đức thô kệch, xe tăng bọc thép nên không khoái đi lắm. Tôi đã trì hoãn bao nhiêu lần để không đặt chân tới cái thủ đô xám xịt ấy thế mà lần này vì chồng vì em thì cũng quyết một phen.

Thế nhưng tới tận ngày đi, tôi vẫn tự hỏi có nên đi hay không. Lòng giờ không chỉ luẩn quẩn việc Berlin ủ dột thế nào mà còn việc liệu con có trụ được cái lạnh phương Bắc không? Thậm chí buổi chiểu ngày hôm trước tôi còn buồn tới phát khóc vì nghĩ liệu mình có quá ích kỉ với con. Con mới 6 tháng mà đã bắt con lăn lóc trên những con đường. Chồng liền an ủi “Thôi, tới nước này thì phải đi thôi”. Cả hai chúng tôi cùng nhìn nhau nghi ngại. Đôi mắt ám màu lo lắng vì một hành trình mệt mỏi được nhìn thấy trước. Lucie thì vẫn chẳng biết gì, em vẫn vui cười, ti và ngủ rất ngoan trong 1.5h  máy bay.

Thành phố của anh chàng Ampelmann chào đón em với khí hậu ấm áp bất ngờ. Dù trời có hơi xám, hơi mưa, nhưng nhiệt độ còn cao hơn ở Paris nữa. Sau khi bị choáng ngợp với cái thang máy to như phòng khách ở sân bay Tegel, xe bus vào thành phố cứ 5ph 1 chuyến, những chung cư xấu thô kệch khắp nơi, cây trơ trụ lá, sự náo nhiệt của người trên đường, thì cả 3 cũng đã tới được nơi trọ. Lucie đã ngủ ngon lành trên xe bus và giờ thì chúng tôi phải đi kiếm thức ăn cho em và ba mẹ em. Lúc vừa xuống bus tôi đã tia thấy tiệm Curry 360 trước Zoologist garden station với cả dãy dài người xếp hàng. Mũi thơm hấp dẫn lôi chúng tôi vào, chỉ 5 phút sau, cũng giống như cả chục người Đức đang nhộn nhạo xung quanh, mỗi đứa đứng chén một suất xúc xích curry với khoai tây chiên và cocacola. Lucie được ba địu trước ngực, vừa lấy tay với đĩa xúc xích vừa măm măm mới carot trắng. Lần đầu được ăn đồ Hipp em rất vui vẻ và hợp tác. Thậm chí em còn hào hứng nhìn ngó các gian hàng đồ chơi, cây thông noel, và những gian đồ ăn màu sắc khi chúng tôi ghé vào một chợ Noel gần đó.

DSCF3557

Chợ Noel này được trang hoàng rất nhiều cây thông lấp lánh, các gian hàng đều bằng gỗ cà có mái che đàng hoàng như những ngôi nhà nhỏ, tạo cảm giác rất thân thiện, chứ không thương mại như ở Paris. Chợ Noel ở Đức khác ở Pháp là không có mùi vin chaud thơm lừng, mà thay vào đó là mùi xúc xích nướng và khoai tây chiên ở khắp nơi. Anh chàng bán khoai tây còn dễ thương mời tôi thử vị trước khi mua. Chúng tôi chọn vị hành rồi nhâm nhi dạo quanh khắp các gian hàng. Lucie lúc này đã nghiêng đầu sang ngủ ngon lành. Ở đây chủ yếu là bán đồ ăn, hạt hẻ nướng, bánh khoai tây rán, langos, kebab cá hồi, hay những chảo nấm to đùng nghi ngút khói. Tất cả đều làm tôi tò mò muốn thử. Tối hôm sau tôi đã quay lại và thỏa mãn bản thân khi lót dạ với bánh langos và bữa tối là hot dog xúc xích ớt siêu cay cùng một hũ nấm thơm mềm. Langos là một loại bánh chiên phồng, như bánh tiêu nhưng lại được phủ lên ít sốt chua, cải bắp chua, phô mai và salami hoặc thịt nguội tùy chọn.  Khi ăn có thể rắc tiêu hoặc tabacos chua cay. Món này ăn vừa lạ miệng vừa gợi nhớ vị bánh rán quê nhà. Tôi thích nó hơn là thứ thức uống Hot angel làm từ trứng đánh với rượu nóng. Hot angel vừa ngọt vừa nặng cồn nên uống rất nhanh nóng người và quay cuồng đầu óc. Khi bị lạnh ở Postdom, tôi đã uống Hot angel theo lời gợi ý của người đứng cạnh. Kết quả là tôi bị mòng mòng 1 lúc và dạ dày thì kêu gào liên tục.

DSCF3411

2 ngày liên tục ở Berlin, chúng tôi bám dính lấy quán curry 36 – thứ đại diện cho thành phố hết sức công nghiệp. Mặc dù đồ ăn nhanh ở Berlin ở khắp nơi, nhưng không hiểu sao chồng tôi cứ mê mệt thứ xúc xích ở đây. Đến tận khi em trai tôi bảo: anh tới canteen trường em mà ăn, y chang mà giá 1 nửa thì chồng tôi mới từ bỏ hẳn. Chúng tôi đi vào nhà hàng ồn ào ầm ĩ tên Hofbrau để uống bia đen và thử món chân giò trứ danh. Hofbrau ầm ĩ tới mức tôi tưởng như đi vào quán nhậu VN. Hàng trăm bàn ăn lớn, hàng trăm khách nói chuyện huyên náo, trong tiếng nhạc rộn ràng của ban nhạc trên sân khấu, các em phục vụ mặc đồ truyền thống với áo bó ngực, người ra người vào tấp nập, thật lý tưởng để đánh bạt tiếng kêu gào của Lucie. Thế mà em lại chẳng kêu la gì, em rất ngoan, ăn ngon lành hũ thức ăn của mình rồi còn đòi gặm bánh mì của mẹ và với cốc bia của ba. Chất Đức hiện lên rõ nét ở đây, ở Pháp có lẽ chẳng bao giờ kiếm nổi một nhà hàng rộn rạo như vậy.

DSCF4051 DSCF4069

Cảm giác về một nước Đức công nghiệp, vội vã, ồn ào, to lớn, khuếch trương, xe tăng bọc thép thực sự được minh chứng bởi vỉa hè lớn, đường to, thức ăn nhanh và con người vạm vỡ. Thật buồn khi phải nói tôi thích sự nhẹ nhàng bay bổng của nước Pháp hơn. Cổng Brandenburg nổi tiếng không diễm lệ như Khải Hoàn Môn. Tòa nhà chính phủ với mái vòm kính Reichstag được thiết kế mới bởi Norman Forster với khái niệm tạo kết nối mới cũ và tạo hình con phượng hoàng đốt cháy mình hồi sinh cũng không làm tôi choáng ngợp được. Bức tường Berlin được tô vẽ bởi muôn ngàn nghệ sĩ cũng chỉ khiến tôi à ô đôi chút bởi vài bức vẽ ấn tượng, cũng giống như Peace Wall ở Belfast. Có lẽ cái bóng quá lớn của lịch sử đã lấn át sự hiện diện nhỏ nhoi của bức tường trong hiện tại. Sự thất vọng có lẽ đến một phần bởi sự heo hút lạnh lẽo khi chúng tôi tới đó và Lucie thì khóc quấy không ưng ý.

DSCF3602 DSCF3674 DSCF3678

Thứ duy nhất khiến tôi có lại cảm tình với Berlin là người Do Thái. Câu chuyện bi thảm của họ làm cả thế giới xót thương. Họ đẹp, họ giỏi, họ chịu nhiều đau khổ. Jewish Holocaust memorial với sự sắp xếp của hơn 2000 khối bê tông cao thấp trên nền đất nhấp nhô là cái nghĩa địa giả cho những cái chết tang thương của một thời kì ai cũng muốn quên. Thằng em tôi giải thích về ông KTS Peter Eisenman và sự sáng tạo của ông ấy về các mô hình kiến trúc. Lại một ông trùm có tầm ảnh hưởng tới toàn ngành. Chúng tôi đi vào đó như vào mê cung. Chúng tôi lạc giữa rừng hình khối để cảm nhận được sự lạc lối của người Do Thái. Họ lạc lối trong xã hội Đức, mãi vẫn không tìm cho mình được chốn nương thân. Đó cũng là ý tưởng của Daniel Libeskind khi cho xây dựng các bậc cầu thang siêu dài ở đường Continuity ở Bảo tàng Do Thái.

DSCF3916 DSCF3584

Con đường tới với quê hương của người Do Thái sao mà nhọc nhằn quá. Chúng tôi leo tới mệt mỏi mới đi hết được Axes of Continuity. Ở con đường này có các phòng trưng bày cuộc sống thường nhật, những con người nổi tiếng, những câu chuyện gia đình, sự lấn trốn hay bi kịch thảm sát của người Do Thái. Thế nhưng chúng tôi không có nhiều thời gian để xem hết, để xem hết chắc phải mất cả ngày. Chúng tôi chỉ bị ấn tương mạnh bởi căn phòng Void, một căn phòng trống trơn không có gì cả, thể hiện sự vắng mặt của người Do Thái trong xã hội Đức. Ở cuối căn phòng là một căn phòng nhỏ- The Voids, có trần thật cao, dưới sàn là muôn ngàn khuôn mặt được đúc bằng sắt, khi người ta đi lên sẽ phát ra những tiếng kêu thét lanh lảnh. Sự kêu than của người Do Thái hiện hữu trong từng bước chân người thường. Đó quả là một ý tưởng đơn giản mà lay động. Tôi nghe thấy tiếng kêu khóc ấy thấm tận tâm can.

DSCF4135

Một căn phòng khác ở cuối Axes of Holocaust cũng làm tôi ghê rợn. Đó là một căn phòng kín bưng, trần cao thật cao, chỉ có bóng tối bao trùm. Khi vào đó bạn không thể thấy gì hết ngoài nỗi sợ. Chồng tôi bảo đó là lòa hỏa thiêu. Những người Do Thái xếp hàng dài, không sức sống, họ từ từ đi vào phòng, từng người từng người, và khói bay lên. Tôi rùng mình ớn lạnh. Ở cuối Axes of Exile, một khu rừng được dựng lên bởi các khối bê tông và olive trồng trên đỉnh khối mang lại chút hi vọng cho họ, cho tôi. Người Do Thái luôn sống với những hi vọng nhỏ nhoi, y như những tia nắng le lói từ những khe cửa của bảo tàng. Cái bảo tàng với hình thù zic zac kì quái cư  ngụ quá nhiều ẩn ý. Bạn có thể biết, có thể không, nhưng bạn chắc chắn cảm nhận được rõ ràng nỗi thống khổ của người Do Thái khi bước chân vào đó.

Berlin, có lẽ tôi sẽ không bao giờ quay lại, mặc dù mấy ngày ở đó rất vui vì gặp được em và bạn. Nhưng có quá nhiều đau thương trong quá khứ và thất vọng ở hiện tại, tôi không thấm hết được.

Dưới ánh mặt trời Süddeutschland (Baden-Württemberg )

“Do you have to go to Germany with me?”

Tôi nhận được những dòng như thế vào những ngày cuối tháng 5 nắng rực rỡ và gió bát ngát. Pierre gửi email này cho tôi sau khi đã bị Arnab cậu bạn chí cốt của cậu ta khước từ vì sắp bảo vệ luận án. Tôi ngẫm nghĩ “Hmn, tại sao tôi phải đi Đức với cậu chứ”, nhưng tôi cũng không bực lâu làm gì vì đó là sự sai ngữ pháp phổ biến của Pierre, thay vì viết “Do you want” thì cậu ta cho một câu xanh rờn “Do you have to ”. Đợt đó tôi đang bù đầu trong những bài tập lớn cuối cùng trước khi kì blocus thứ hai nên dĩ nhiên tôi khước từ, kèm theo sự kêu gào thảm thiết và sự căm phẫn trường UCL (Université Catholic de Louvain nơi tôi đang học).

Một tuần sau, Pierre gửi tiếp một email, lần này cho cả Alex để thăm dò chuyện đi Đức. May mắn lúc này chúng tôi đã hoàn thành xong việc học. Chúng tôi quyết định đi theo tiếng gọi của Pierre để nghỉ ngơi cuối tuần 3 ngày trước khi bước vào đợt blocus dài đằng đẵng đắm mình trong 4 bức tường, máy tính và pasta.

“ Này tôi sắp đi nghỉ cuối tuần ở Süddeutschland (miền nam nước Đức)” tôi khoe với với Vengat – anh chàng cộng sự Ấn Độ đắc lực trong học và làm nhóm với tôi

“wow, đi với ai thế?

“Alex và Pierre, rồi Alex rủ Marti đi cùng, còn Pierre rủ Leen, Leen học cùng Saru năm ngoái  và Saru bảo cô nàng này chẳng tốt, còn tôi không thích Marti cho lắm, vậy là tôi cô đơn toàn tập” tôi  bắt đầu bài ca than phiền

“Ha ha” Vengat đã cười ầm ĩ đầy hân hoan trong buổi học cuôi cùng của năm học.

Ngoài kia hoa mugette đã ngủ quên trong mùi hương.

……………………………

Pierre bằng tuổi tôi dù đã ra ngoài đi làm được một năm nhưng anh chàng này cực kì ham chơi. Cậu chàng chuyển ra ngoài sống cùng bạn bè đã lâu và gần như tuần nào cũng tổ chức party, chưa kể tới kế hoạch 6 tháng ở châu Phi đang mời gọi cậu ấy vào cuối năm nay. Nhân dịp bố mẹ đi nghỉ mát, cậu ta lấy ngay ôtô gia đình để đưa bạn bè đi một vòng miền nam nước Đức. Cậu ta bảo “tôi nghiện Đức bởi không có ở đâu bia ngon như ở đây”. Điều đó thực sự đầy hứa hẹn đối với tôi.

Chúng tôi lên đường vào chiều thứ 6, khi tôi kết thúc buổi học cuối cùng, còn Alex cúp cua do bận ở nhà chuẩn bị hành lý. Pierre mang con xe yêu thích của cậu ta tới LLN đón chúng tôi. Đấy là cái xe tôi cực ghét bởi nó là loại xe dành cho gia đình có trẻ nhỏ, không có 2 cánh cửa hậu, Mỗi lần tôi muốn đi vào ghế ngồi, đều phải vất vả trèo qua hàng ghế trước và không gian xe cũng khá bé. Nhưng sau này nghĩ lại thì đó lại là con xe mà tôi yêu thích nhất.

Lên đường lúc 5h chiều khi trời vẫn còn sáng, tôi uống một liều thuốc chống say và lại gà gà ngủ như mọi khi, trong khi Alex nói chuyện với Mati bằng tiếng Tây Ban Nha, thì Pierre hoá ra rất cô độc. Cô độc như chiếc xe lao vun vút trên những con đường quốc lộ lộng gió đầu hè. Những cánh rừng thông âm u sừng sững hai bên đường hút mắt nhìn. Những cây thông khổng lồ như những gã Titan và kiên định như những chú lính chì, chen chân đứng duyệt binh bảo vệ cho vương quốc bóng tối bí ẩn. Tất cả ập tới cho tôi cảm giác mát lạnh tới ghê người. Rừng thông này nối tiếp rừng thông kia dường như mãi mãi, cho tới khi những cối xay gió trắng tinh hiện ra thì chúng tôi biết mình đã chạm những thung lũng ở Luxembourg. Dừng lại nơi đây để ăn tối, lại như mọi khi Mc Donald là bạn đồng hành lý tưởng, tôi nhấm nhẳng gặm hết 2 cái cánh gà cháy của mình, rồi ngao ngán nghĩ về nửa chặng đường nữa cần phải chinh phục.

500 km tưởng chừng như là quá sức đối với đứa say xe thừa chết thiếu sống như tôi, vậy mà khi qua biên giới Đức, những cánh đồng hoa vàng nở rộ bao la, tôi như sống dậy hồn nhiên hơn bao giờ hết. Tôi áp mặt vào cửa kính nhìn ra cánh đồng hoa cải. Thứ cải để làm dầu, làm mù tạt cay xe ấy mà lại đẹp mê lòng tới vậy. Thật là chán, nếu tôi là lái xe, tôi đã dừng lại để vục đầu vào cánh đồng bất tận ấy và quên hết chiều tàn, xuân muộn. Những giai điệu ầm ĩ “Allez allez belges” vang lên làm kéo tôi về với cái xe 4 chỗ. Bài hát nhắng nhít như một bài cổ động nhưng cũng hào sảng như bài quốc ca vậy, khiến chúng tôi không khỏi sặc cười. Này, chiều hè nắng, nhạc nhộn nhàng, bạn bè bên cạnh, một vùng đất mới sắp đến, xa khỏi việc học hành, tôi yêu cái ngày hè này quá.

Chạm chân trên quảng trường trung tâm Karlsrule vào lúc gần 10h đêm, đêm hè mà lạnhngắt như đông còn lảng bảng.Thành phố này vẫn thức, không như Louvain la neuve giờ này đã ngon giấc. Đường dẫn vào quảng trường hắt lên ánh sáng trắng từ dàn đèn trên mặt đường trong thật rực rỡ, ánh sáng đó đưa mắt tôi đến khuôn viên lâu đài. Lâu đài được xây dựng từ lâu, bây giờ là viện bảo tàng lớn ở đây, còn xung quanh cây cỗi bao trùm tạo nên công viên tuyệt đẹp giữa thành phố. Hàng ngày chiếc xe điện màu đỏ vẫn chạy quanh quanh mang đến sự vui nhộn trong lòng cổ kính. Còn nhớ sáng thứ hai cuối cùng ở Karlsrule, lũ chúng tôi đã nằm ườn trên bãi cỏ, đợi tàu điện đi qua để tạo hiện trường án mạng mà bất thành. Nắng rải nhẹ nhàng sau một cơn mưa bất chợt khiến cỏ cũng phải rùng mình rũ nước cho kịp đón sinh viên tới… tắm nắng. Chúng tôi tắm nắng thư thái, đôi khi lại nhảy chơi bập bênh như những đứa trẻ, mà có khi trẻ con bây giờ cũng chẳng chơi mấy trò đó, nó chỉ còn dành cho lũ người lớn muốn được lại làm trẻ con.

Tối nay tôi ngủ ở nhà Leen cô bạn người Malaysia của Pierre, tôi có phần hơi lo lắng khi biết Saru không ưa cô ấy lắm. Nhưng quả thật tôi lại rất quý cô ấy. Leen kê ghế sofa sát vào tường tạo nên cái ổ ấm cúng cho tôi, đó là cái giường cực kì nhất mà tôi từng có. Và tôi đã ngủ mà không cựa mình cơ đấy.

Sớm mai khi nắng vàng ruộm nóc lâu đài, tôi rời cái ổ kén của mình đầy luyên tiếc. Cả lũ chúng tôi uống café ở một quán bánh ngọt. Tôi đã tự thưởng cho mình bánh bơ rất ngon kèm espresso. Cả lũ ăn uống và bàn bạc về kế hoạch những ngày dài phía trước. Chúng tôi quyết định đi Heidelberg thành phố lãng mạn. Đó là nơi cực xinh mà tôi sẽ kể cho bạn nghe sau bởi một ngày ở đó có biết bao điều để nói.

Chiều tà chúng tôi phóng xe tới Stuggart để đi picnic. Stuggart là một thành phố lớn, Pierre dự định tới đó để đi xem bảo tàng xe Porche nhưng lúc này bảo tàng đã đóng cửa nên chúng tôi chỉ đi dạo quanh khu trung tâm. Những con đường tràn ngập người đi mua sắm khiến tôi lo sợ lại lạc mất Pierre khi anh chàng than thở “Tôi cần mua một đôi giày mới”. Và tôi đã lạc mất Pierre. Nhưng tôi cũng chẳng bận tâm, bởi có Leen là dân bản xứ ở đây thì tôi chẳng cần thêm 1 tour guide làm gì. Và tôi biết chỉ một lúc sau là Pierre sẽ phải tìm tới chúng tôi thôi, khi mà cơn mệt mỏi của anh chàng đã kéo tới. Vơ vội mấy gói snack khoai tây và nước nho, chúng tôi lao ra bãi cỏ ven hồ ở trung tâm Stuggart. nằm dài ra phơi nắng, lười nhác như những con mèo. Leen trổ tài acoustic dạo nên những điệu nhạc quen thuộc.

“Doraemon” tôi xuýt nhảy lên vì gặp lại giai điệu bé thơ

“Chính xác” Leen vui vẻ ra mặt.

“Nữa đi” tôi hào hứng hơn bao giờ hết. Và Leen đã dạo lên những ca khúc từ những ngày xưa lắm “Stand by me” hay những bản nhạc của Vilvadi, thật tuyệt vì ngày trước cô nàng từng chơi kèn rất cừ.

Chúng tôi nằm dưới ánh mặt trời vùng Suddeustchland,  khoan khoái nhìn nắng trên từng khuôn mặt vui tươi của mọi người nơi đây. Lũ chúng tôi tranh nhau kem chống nắng và nhường nhau snack. Pierre đòi tôi nói tiếng Việt, Leen nói tiếng Trung Quốc để so sánh. Alex dạy tôi mấy câu chửi bậy tiếng Ý, còn Mati thì chửi thề tiếng Tây Ban Nha khi có đám mây sà đến che hết nắng của cô nàng. Tôi nằm ngủ trong làn gió dịu dàng thấy vui như trưa hè vì tôi biết quanh tôi mọi người cũng đang ngủ bình yên. Chưa bao giờ tôi đi nghỉ lại đúng nghĩa đến thế,

Đêm buông dần, xe chạy lại về Karlsrule, những giai điệu quen thuộc từ ipod của Pierre ập tới “Ironic” của Alain Morisette, cô bạn Mati nghêu ngao theo “traffic …jam…”, Pierre và Alex vẫn đọc bản đồ, Leen dựa đầu vào cửa kính, tôi chẳng biết cô ấy đang thức hay đang ngủ nữa. Tôi chỉ thấy nỗi buồn khôn tả dấy lên. Nhưng cuộc sống ơi, có bao giờ đẹp thế này chăng.