Nghịch lý Praha – những mảng màu đen trắng (phan 2)

…..đến sáng

Mặc dù Ngân quả quyết rằng ga trải giường rất bẩn làm cô ấy bị ngứa, thì tôi vẫn có một đêm thật ngon giấc. Sau một đêm ngủ không địa chấn trong vùng tâm bão, chúng tôi quyết định ra ngoài đi dạo. Praha cũng có hai vùng rõ rệt được chia cắt bởi sông Vltava, một bên đồi núi và một bên bằng phẳng, chỉ có điều ngay cả nơi bằng phẳng, mặt đất cũng khá nhấp nhô. Chính vì vậy nhà cửa ở Praha thường không dàn hàng mà xếp tầng những bậc cao thấp, để từ trên cao, người ta phải thốt lên “ôi Praha – thành phố vạn nóc nhà”

Chen lấn với hàng ngàn khách du lịch, chúng tôi leo lên tới đỉnh của ngọn tháp cao nhất nơi đây. Từ đỉnh tháp nhìn sang bên trái, quần thể lâu đài Praha hiện lên hùng dũng trên đỉnh một ngọn đồi với những khu nhà dài mái xanh ghi chen lẫn những khu nhà mái đỏ, tạo thành bức bình phong kiên cố quay lấy một toà tháp đồ sộ rêu phong. Sừng sững hiện lên hai tháp nhọn hoắt màu ám khói cùng những đinh gai vươn lên tua tủa, bám sau là một đỉnh tháp cao hơn bằng đồng đã ngả màu xanh lá, được điểm xuyết những đỉnh nhọn bọc vàng ánh lên trong nắng, đó là thánh đường St Vitus – biểu tượng tinh thần của đất nước.

Là một kiệt tác Gothic mà mất 60 năm mới hoàn thành, thánh đường này có vẻ ngoài khắc khổ nanh nọc bởi các nét chạm khắc công phu, trông nó giống như hang quỷ hơn là nhà thờ thiên chúa. Dù phủ lên mình một màu nâu vàng chết chóc, nhưng nhà thờ vẫn ánh lên chút sức sống ở những bích hoạ tuyệt đẹp phía cửa chính cùng những hàng cửa sổ xanh nhạt. Hai trong số những ô cửa ấy thuộc về một căn phòng bí mật, nơi cất giữ vương miện chính thức của đức vua. Căn phòng này có 7 cánh cửa với 7 chiếc chìa khoá khác nhau. Mỗi chìa khoá được giao cho một nguyên thủ quốc gia cất giữ, chỉ khi nào cả 7 chiếc chìa khoá được sử dụng thì căn phòng mới được mở ra. Tuy nhiên dù là thời kì nào thì 7 ông lãnh đạo này chẳng ai ưa ai nên bí mật trong căn phòng vẫn mãi là bí mật (truyện nghe lỏm từ 1 cô hướng dẫn viên)

Dàn trải cả thành phố, một màu ngói đỏ bao trùm, với những kiểu dáng mái khác nhau. Kiểu phổ biến nhất là mái ngói đơn giản như các ngôi nhà làng quê Việt Nam. Cầu kì hơn một chút thì có những dãy mái đình chùa Trung Quốc mà Ngân chỉ cho tôi ở gần công viên thành phố. Đâu đó có vài ba màu ngói xám ghi hoặc xanh xám điểm lên cho thêm phần đa dạng. Tất cả chỉ để làm nổi bật lên những mái vòm nhà thờ ấn tượng. (Không hiểu sao tôi lại si mê nhà thờ thế nhỉ)

Vượt dòng Vltava, nhìn vào khu quảng trường trung tâm ( Old Town square ), nhà thờ Tyn (Týnský Chrám) hiện lên với hai tháp nhọn bằng sắt đen ấn tượng. Cùng là kiến trúc Gothic nhưng nhà thờ này có kết cấu mái khác hẳn thánh đường St Vitus không chỉ bởi chất liệu mà còn bởi kiểu dáng tháp mẹ bồng con. Điều đặc biệt ở đây là hai ngọn tháp không cân đối, mà to bé khác nhau, bởi nó tượng trưng cho thế giới đàn ông và đàn bà – nét đặc trưng của Gothic thời bấy giờ (không biết ngọn nào là đàn ông, ngọn nào là đàn bà nhỉ).

Kình địch với nhà thờ Tyn là nhà thờ St Nicolas đối diệ n. Nhà thờ có mái vòm đồng xanh như đài hoa úp xuống những ngọn tháp trắng ngần. Nếu Tyn được ví như bà phù thủy thì rõ ràng St. Nicolas là nàng bạch tuyết. Vẻ kiến trúc Baroque bên ngoài chưa đủ thu hút tôi nhưng những bức bích hoạ bên trong thì khiến tôi mê mẩn quên cả tác nghiệp, trong khi Ngân và Alex đã chụp không biết bao nhiêu ảnh về tranh vòm của nhà thờ.


Mải mê nhìn ngắm nhứng nóc nhà, tôi bất giác phát hiện ra ánh nắng đã nhạt màu. Cả lũ đuổi nhau chạy ngược xuống dòng Vltava cố gắng vớt một ngày sắp tàn.Nhưng Praha đã chuyển trời về đêm, đèn điện đã thắp lên sáng rực thành phố. Réo rắt tiếng violon từ một nhạc công già, ông chơi bản Bốn mùa của Vivaldi trong ánh nền trên cầu Charles. Chúng tôi dừng lại, lắng nghe từ bản nhạc này tới bản nhạc khác mà không muốn rời đi. Dường như cả những vị thánh trên cầu cũng đắm chìm trong những giai điệu ngọt ngào.

Xa xa hơn, một đôi uyên ương đang đung đưa theo điệu nhạc, họ nhảy thật duyên dáng quá, đó là Toà nhà khiêu vũ (Dancing house – Tančící dům). Với thiết kế mềm mại, uyển chuyển, toà nhà khiêu vũ (hay còn gọi là gã say rượu ) đã đẩy lùi mọi kiến trúc truyền thống, tạo cho mình một nét hài hoà, khác hẳn những gò bò cứng nhắc của các toà Gothic xung quanh. Không biết tôi là đã mừng rú thế nào khi được tận mắt nhìn công trình này. Qúa thích thú, tôi chỉ muốn khiêu vũ tới tận ga tàu, cả khi lên tàu, cả khi tàu rời bánh vẫn lâng lâng đêm Praha.

Praha là nơi tôi lẫn lộn mọi cảm xúc, lúc yêu say đắm, lúc ghét điên cuồng, lúc thấy Praha quá đẹp, lúc thì xấu quá đỗi. Praha là một nghịch lý, hay đơn giản đó là cuộc sống.

MTN 4/2010

Nghịch lý Praha – những mảng màu đen trắng (phan 1)

Nghịch lý Praha – những mảng màu đen trắng

(cảm ơn Giang ng dẫn đường nhiệt tình)

<Praha có nhiều cách gọi tên như Prague (tiếng Anh, tiếng Pháp), Praga (tiếng Latin)  nhưng dân ở đây gọi thủ đô của họ là Praha.>

Trên con tàu từ Bratislava tới Budapest, buồn vì không có việc gì làm, chúng tôi lôi các câu hỏi ra đố nhau, đáp án đúng được ăn chocolate, còn gì khoái hơn thế. Với dân Việt Nam thì những câu hỏi này đã cũ rách cũ nát mới nghe mở bài đã biết … trúng tủ, thế là tôi tới tấp ăn hết miếng này tới miếng khác. Nhưng cuối cùng tôi cũng phải há hốc mồm, rơi tọt cả cục chocolate vào trong họng khi nghe câu hỏi của Alex:

“Ở Barbados, đàn ông được chia làm 2 phái, phái tự mình cắt tóc được và phái phải ra hàng cắt tóc, vậy hỏi ông thợ cắt tóc ở Barbados thuộc phái nào?”

“Hừm”

“Mọi người được suy nghĩ đến sáng mai. Bây giờ một câu hỏi khác: nếu tôi để cho những kẻ ngu ngốc suy nghĩ câu hỏi này trong một ngày thì họ sẽ nghĩ gì?” Alex thừa thắng xông lên “ha ha ha”

(ah ha, chơi nhau đây), “Thuộc cả 2 phái” tôi hào hứng

“Thực ra câu hỏi này vẫn chưa có câu trả lời, người ta gọi đó là Barbados’s paradox (nghịch lý Barbados)”

Lại giống kiểu nghịch lý con gà và quả trứng rồi.

10 ph sau, bỗng nhiên Mireia thốt lên “Thế cuối cùng câu trả lời là gì?” hoá ra cô nàng vẫn đang suy nghĩ về cả 2 câu hỏi. Cô nàng này cũng là 1 nghịch lý: vàng hoe trong cuộc sống và thông minh trong học hành. Có lẽ ai cũng có những nghịch lý riêng, nhưng tôi vẫn sững sờ khi thấy ngay cả Praha cũng mang trong mình 1 nghịch lý

Praha hành trình từ tối…..

Đến Praha vào lúc nửa đêm, cả lũ lọ mọ xách đống hành lý đi theo người dẫn đường toàn dò sai bản đổ – Alex. Mò mẫm một tiếng trong các hang cùng ngỏ hẻm của Praha, tôi bỗng nhận ra mình đang lạc vào khu “đèn đỏ” của thủ đô Đông Âu. “Ngân ơi, thôi bọn mình chết rồi”, 2 đứa con gái vừa đi vừa vừa như chạy theo Alex (bạn này vẫn đi phăng phăng, chăm chú vào cái bản đồ, không để ý gì xung quanh), trong khi thực tại xung quanh toàn các hàng erotic. Vượt qua 2 khu phố rực rỡ ánh đèn từ các hộp đêm (cabaret), bỗng bạn Alex khựng lại ở một hộp đêm to bậc nhất khu phố – Alast cabaret. Tôi chột dạ “Không lẽ nó muốn vào đây “.

“Hostel của chúng ta đây này” Alex hồ hởi thông báo với cái mặt phấn khích tột đỉnh như Colombo khám phá ra châu Mĩ.

Quay cuồng một hồi thì tôi đành chấp nhận sự thật giật mình: hostel của chúng tôi nằm trên tầng 4 của hộp đêm “nổi tiếng” bậc nhất khu “tai tiếng” số 1 ở Praha, nơi đối diện là Darling cabaret hoành tráng, lảng vảng những tay bảo vệ da đen cực ngầu, và đâu đó ở góc phố những xe cảnh sát đang trực sẵn. Tôi bám víu vào nghịch lý hết sức vật lý: chính tâm bão mới là nơi lặng gió nhất.

Đêm đã khuya, tìm được hostel là may mắn làm rồi, chúng tôi rón rén từng bước như Alice vào động thỏ. Khu tầng 1 rập rờn những sắc đỏ từ khu strip club, tất nhiên đã có màn che kín,tuy nhiên nếu bạn là nữ thì được vào miễn phí. Lần đầu tiên tôi thấy có nơi công khai trọng nữ khinh nam thế, nhưng mà tôi không ham, lúc ấy tôi chỉ muốn lê được tới phòng, quẳng hành lý đi và vui ngủ. Hí hửng gặp được thang máy như cá gặp nước nhưng ôi thôi. Vài ba chị gái xinh đẹp trong bikini hồng, đứng bên cạnh vài bà già nhăn nheo với monokini kiểu con thỏ, khiến ai cũng phải ngoái nhìn…… vì ghê rợn. Chúng tôi đành lủi thủi nhường thang máy và dấn thân vào dãy hành lang tối thui.

Cả dãy hành làng chỉ có một ánh điện chập chờn, lúc bật lúc tắt, tôi vừa đi vừa ăn vạ như Chí Phèo không gặp được Thị Nở. Sau một hồi mò mẫm, chúng tôi leo được lên tầng 3, vập ngay trước mắt là biển chỉ dẫn “Receptionist”, ôi mừng quá rồi. Thì kèm ngay dòng dưới là “We are not here, plz go upstair”, ôi giời ơi, đúng là hoạ vô đơn chí. Lại tiếp tục hành trình leo và chửi, chúng tôi lên tới tầng 4, việc check-in diễn ra nhanh chóng hơn mong đợi, vác hành lý 9.4kg, tôi mồ hôi ướt đẫm lao vào phòng tìm chốn nương thân.

Ở ngoài kia 2 thằng bạn Alex và Arnab đang hồ hởi

Qủa là một hostel lý tưởng”,

“Không còn gì tuyệt hơn”.

“Theo cậu biết giá ở đây bao nhiêu” giọng Arnab hỏi Alex (Ah ha, có kẻ tò mò)

Chịu, nhưng mà có khi 2 người được giảm giá” Alex vẫn giữ nguyên phong độ

Qủa là sáng kiến quá tuyệt, tôi cười bò ở trong phòng, nhưng vẫn phải yên lặng kẻo có người biết mình nghe trộm ý tưởng.

Đồng hồ đã điểm 1h sáng, tôi lên giường bắt đầu hành trình tìm kiếm những giấc mơ, thì bỗng có tiếng gõ cửa. Ôi đau tim quá, vào cái giờ nửa đêm gà gáy, ở giữa chốn thâm cung này mà lại có tiếng gõ cửa.

Ra ngoài làm 1 chầu không?” tiếng Arnab thủ thỉ qua khe cửa

Ah ha, đúng là tiếng chiến hữu của mình “Sao không? Ra ngay đây” tôi hồ hởi.

Thế là dù đã làm ổ khá tươm, tôi vẫn quyết dứt áo ra đi, kiếm chút khí trời. Cả lũ rất hào hứng nhào vào đêm Praha, riêng Ngân thì tinh thần xuống cấp trầm trọng, bởi cứ nghĩ phải quay về cái hostel đặc biệt ấy là cô nàng không thể nào vui lên được.

Đêm Praha náo động khác thường, dường như xa hoa, lộng lẫy và có phần phóng túng như 1 thành phố ăn chơi bậc nhất châu Âu. Với những đại lộ thênh thang, những quán hàng hotdog trải dài cả đường, những tay da đen đi mui trần, những limousine kéo dài chục mét, những thanh niên trang phục đen tuyền cùng những kiểu đầu xanh đỏ quái gở, mắt đen, môi tím, khuyên tai, khuyên mũi, Praha khiến tôi không cần phải tới Mĩ.

Chúng tôi đi ngược vào trung tâm thành phố khu Old town square để tìm vài quán bia đêm. Lang thang một hồi mà không tìm được quán nào ưng ý bởi cái tính đỏng đảnh của cô nàng Mireia, thời tiết thì càng lúc càng rét tê tái, tôi với Ngân quyết định ra vê.

Lang thang đêm ở châu Âu cực kì an toàn, nhưng đừng bao giờ áp dụng bất kì lý thuyết nào của châu Âu cho Praha.

Tôi và Ngân hùng dũng đi bộ về con đường đèn đỏ, không những thế còn đi tới cuối đường vì bỗng dưng cả 2 lại muốn đi mua vài thứ để ăn uống, thế là quyết định làm 1 chuyến buôn đêm. Đến nơi thì lúc này siêu thị đêm cũng đã đóng cửa, xunh quanh mọi thứ tĩnh lặng trong bóng tối , bỗng có ánh sáng chói lên từ đèn pha ôtô và có tiếng nói vọng ra:

“Hey chicks” (này mấy cố em) một gã da đen y như 50 cents giương kính lên gọi chúng tôi từ chiếc mui trần màu… (ôi quên không để ý màu)

Hai đứa co rúm lại, khoác tay nhau tiến hành thế vận hội đi bộ nhanh, nhưng mặt mũi vẫn bình thản tự nhiên. Không những thế, hai đứa còn quay sang giả vờ nói chuyện rất rôm rả, kì thực là đang tính” nếu nó mà xuống xe thì mình sẽ chạy vào đâu?”. Lúc bấy giờ ánh sáng từ vài quán bia và mấy cửa nhỏ như những sợi chỉ đỏ dẫn đường (may đấy chứ, ở Bỉ thì giờ đó mọi cửa hàng đóng cửa lâu rồi). Sau 5ph cho ôtô đi theo chúng tôi, gã da đen fóng xe đi mất, lần đầu tiên trong đời tôi biết ơn bố mẹ vì sinh ra mình không xinh đẹp.

Hú hồn vì thoát chết trong gang tấc, tôi và Ngân lao vội về hostel, chui ngay vào phòng, lên giường và tự nhủ “Praha thật là đáng ghét” kể cả việc tôi có một cái giường rất rộng với chăn ấm và đệm êm.


MTN 4/2010

Wien mãn

Wien… mãn

Bắt chuyến tàu đêm ở Praga, chúng tôi tới Wien vào một sáng mùa xuân lạnh cắt da, không hiểu nổi thời tiết sao lại thay đổi chóng mặt đến thế, mới hôm qua tôi còn đang phơi nắng bên bờ sông Vltava, sáng nay đã co ro trên sân ga Wien mitening. Dù lạnh nhưng tôi thấy thế mới thật thú vị, ở một nơi cổ kính thế này không khí phải đượm buồn, phải lạnh lẽo, phải nhẹ nhàng như hơi thở mùa đông, thế mới là đẹp (cũng như tới Brazil phải đi vào mùa hè, nắng chiếu cháy da những cô gái trong điệu samba quyến rũ). Hostel thì chỉ mở cửa cho check-in lúc 2h, nên chúng tôi đành cúm rúm dắt díu nhau dạo vòng quanh Wien. Ngắm Wien qua cửa sổ tram vào sáng phục sinh vắng vẻ, những vẻ đẹp tự có của thành phố được phơi bày một cách giản đơn đầy lịch lãm. Những cơn gió tê tái thổi vù vù qua những con đường rộng lớn, qua dòng Donau xinh đẹp, qua những bảo tàng, những cung điện cổ kính, những tháp nhọn nhà thờ, ào ạt như Magic Flute của Mozart cuốn tôi lạc vào thế giới đa chiều nơi bạn có thể thẩm thấu qua tất cả các giác quan.

Ôi, Wien làm tôi yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Trong thời hoàng kim, Wien được ví như trung tâm văn hoá của quý tôc châu Âu. Dường như tinh hoa âm nhạc hội hoạ đều đồng quy tại nơi này để cả châu âu phải đổ dồn ánh mắt ghen tị vào. Có phải vì thế mà ngày nay ở Wien, số lượng bảo tàng nhiều như nhà ở, mà cả nhà ở trông cũng như các bảo tàng (thật sự cái hostel của chúng tôi không khác gì bảo tàng với các tượng nữ thần canh cửa). May mắn kinh khủng là hostel Labyrinth của chúng tôi toạ lạc ngay mê cung của khu Bảo tàng (Museums Quartier) nên chúng tôi có cơ hôi tiếp cận nghệ thuật ngay từ đêm đầu tiên tới Wien.

Museums quartier

Museums quartier là khu cư ngụ của gần 20 bảo tàng, toà lớn, toà nhỏ, toà tinh xảo, toà đơn sơ đều mang trong mình cái trách nhiệm giới thiệu Wien tới toàn thế giới. Nếu mà ghé qua hết tất cả những bảo tàng này thì phải mất vài ngày, thế nên chúng tôi chỉ “chọn mặt gửi vàng” (nói dân dã nghĩa là mua vé, hehe) một vài bảo tàng. Bắt đầu từ Bảo tàng nghệ thuật đương đại (Kunsthalle Wien) với cấu trúc giản dị mà hiện đại (đương nhiên), từ cửa ra vào đập ngay vào mắt bạn là những tượng người xù xì treo lơ lửng giữa không trung, giữa những tường kính, con người dường như đang lơ lửng, bất ổn, đau khổ trong cuộc sống hiện tại. Xa xa trong khoảng sân rộng, hình ảnh những đoạn dạ dày, lòng ruột khổng lồ đang như hút lấy hay như đè nát những hình nộm con người bé nhỏ. Ơ, có phải lòng tham của con người như đang nuốt chửng chính họ không ấy nhỉ? Ôi, tôi cũng không biết đâu, trước nghệ thuật đương đại, xin bó miệng toàn tập, chỉ có điều, giữa không gian trầm mặc của những toà nhà xung quanh, những hình khối này dường như lạc lõng tới tội nghiệp. Nhưng biết đâu đấy ai đó sẽ nói đó là một nét chấm phá làm nên phong cách của Wien hiện tại, để không bị đè bẹp bởi cái bóng quá khứ to đùng (nghệ thuật mà, nói thế nào chẳng có cái lý của nó).

Nếu bạn vẫn còn loay hoay với nghệ thuật đương đại thì nhảy qua Museum of Modern Art, Ludwig Foundation Vienna để ngắm những Pablo Picaso, Paul Klee, Oskar Kokoschka hay Andy Warhol (toàn là tên tôi lôi ra từ quyển guide book ấy mà). Với tôi thì Leopold Museum với những tác phẩm của Áo có vẻ thu hút hơn nhiều. Tuy nhiên rời hostel vào chiều muộn chúng tôi chỉ có thể đi lòng vòng trong khu mê cung bảo tàng để mà xuýt xoa cái vẻ ngoài lộng lẫy của những toà nhà, những bức phù điêu các vị thần thật tinh tế, những hoạ tiết nạm vàng óng ánh, hay những bức tượng đồng đã ngả màu xanh lá rất thần.

Rong ruổi theo những con tuấn mã (thực ra là chạy đua theo chúng để chụp ảnh ), chúng tôi thoát ra khỏi khu Bảo tàng từ khi nào để bước vào khu trung tâm của Wien, nơi hàng quán rực sáng ánh đèn những Chanel, Gucci đang show hàng tập thể bên những quán ăn sang trọng chói ngời. Những con đường lát đá ghi xám lạnh lẽo đưa chân chúng tôi tới thánh đường Stephendom nơi Mozart đã từng làm đám cưới.

Stephendom

Thánh đường có cái to lớn kì vĩ và tuyệt đẹp tới từng đường nét. Những nét cứng cáp vươn lên cao vút của tháp nhọn nghệ thuật Gothic hài hoà bên những nét mảnh mai uốn lượn của những ô cửa sổ, và tất cả chìm trong những gai nhọn đầy cá tính. Cả toà nhà ám trong màu tro xám cũ kĩ có vẻ giống như dom ở Koln ( Cologne) nhưng ở nhà thờ ở đây nổi bật hơn bởi mái nhà được trang trí mosaic từ những viên gạch lát bóng màu xanh lá, màu xanh đậm cùng trắng xen lẫn (chết tôi đang lảm nhảm cái gì ấy nhỉ). Nghe qua tưởng như món sinh tố thập cẩm khi mà người ta cho tất cả mọi thứ mình thích vào mà chẳng quan tâm xem chúng có hợp nhau hay không, nhưng kì lạ là ở nhà thờ này, tường xám với mái xanh lại hoà hợp khủng khiếp.

Nói tới nhà thờ, nói tới bảo tàng mà quên mất các cung điện, tháp lầu (Belvedere) của Wien thì là sự sai lầm không cứu vãn nổi. Cung điện to đẹp và đáng nói nhất ở Wien là Schonbrunn Palace đây từng là nơi sống của nữ hoàng đế Elizabeth của đế chế Áo Hung lừng lẫy (hình ảnh của quý bà này có thể thấy trên mọi đường phố của Wien). Hãy cứ thử làm phép tính nhé, nếu muốn ngắm hết khu palace này bạn phải mất từ 3-4h, nếu chỉ đi ngắm khu vườn bạn phải mất từ 30-40ph, tốc độ trung bình của người đi bộ khoảng 5km/h, vậy diện tích của nó rộng chừng nào? Ối, đau đầu chết mất. Vì thế với kẻ chỉ có 1 ½ ngày ở Wien như tôi thì đành ngậm ngùi nhìn cổng trước của lâu đài rồi thở dài “chắc cũng chẳng có gì đáng xem đâu mà”. Ngay cả mục đích chạm chân tới cửa Belvedere để có thể đi khoe với toàn thế giới là tôi từng ngắm bức The kiss trực tiếp cũng không thành. Coi như mất ½ Wien.

Hundertwasser haus

Nhưng để phục vụ cho việc ngắm nhìn (và chụp ảnh) thì bạn có thể tới khu Hundertwasser haus, nơi có những toà nhà rực rỡ sắc màu, với kiến trúc kì quặc, và đẹp như tranh vẽ. Lần đầu tiên nhìn thấy khu nhà này trên postcard tôi đã không tin nó có thật, hoặc nó nên ở đâu đó ở Barcelona trong những công trình của Gaudi mới phải. Để mãn nhãn, tôi quyết chạy đua với thời gian, với bóng tối để chạm ngõ Hundertwasser vào 8h tối. Lúc này trời đã về đêm, cái rực rỡ tươi sáng của khu nhà không còn nguyên vẹn, nhưng vẫn là quá đẹp với kẻ háo sắc. Nhà cửa ở đây có cái xiêu vẹo, không theo khuôn khổ, có cái mềm mạị sóng sánh, có cái liên tục như một khối, với sự đan xen các mảng màu đậm hài hoà tới ngỡ ngàng, và trên hết nó rất không thực. Vậy nhé, thế là mãn nhãn rồi, phải tới màn mãn thính chứ nhỉ.

Dường như nền âm nhạc cổ điển đều khơi nguồn từ thành Wien thơ mộng này. Thế nên đến Wien có những việc không thể không làm đó là tới Mozarthaus để chìm đắm trông âm nhạc hàn lâm. Tôi thì mù tịt thứ âm nhạc bác học này, nhưng muốn đi để xem thiên tài sống khác mình thế nào. Nhà của Mozart nằm trong một con hẻm nhỏ, có cái tĩnh lặng của ngàn năm, nhưng cũng có cái phong trần của thủ đô xa hoa. Đây là ngôi nhà Mozart gắn liền nhất trong cuộc đời – 2 năm có lẻ, ông chuyển tới đây cùng vợ và 2 người con trai khi tên tuổi đã vang danh khắp nơi. 27 tuổi Amadeus Mozart đã nằm trong top những kẻ giàu nhất Áo, hoàng tử Áo luôn có trong danh sách thính giả ở các buổi hoà nhạc của ông, và học sinh từ khắp châu âu đổ về học piano (trích từ lời thuyết minh nghe được ở Mozarthaus) . Ngôi nhà có vị thế đẹp, rộng lớn, với nhiều kẻ hầu hạ, và kì lạ nhất là số lượng đồ nội thất cực nhiều, khiến bây giờ mọi người cũng không sao hiểu được Constanze Mozart – vợ ông đã sắp xếp như thế nào. Đến với Mozart, không chỉ được nghe những tác phẩm bất hủ của ông như Magic Flute (dưới dạng kịch 3D rất hấp dẫn), Don Giovanni, hay Le nozze di Figaro (the marriage of Fiargo), mà còn khám phá được tình bạn cao đẹp của ông với Haydn, hay bí ẩn cái chết của Mozart (kẻ nói ông bị ám sát, kẻ nói ông tự tử). Nhưng điều giật gân nhất là tôi phát hiện ra đó là Mozart từng là con bạc khát nước và cũng là kẻ nghiền bi-a. Vĩ nhân cũng chỉ là người bình thường.

Central coffee

Mãn nhãn, mãn thính chưa đủ, còn phải mãn vị nữa mới an tâm mà nói tôi đã có một chuyến đi thành công ngoài mong đợi. Chocolate ở Wien nổi bật nhất là Mozart, với 3 tầng màu: nâu, xanh,trắng, là sự hoà quyện tuyệt vời của chocolate, sữa và hạnh nhân. Có lẽ ngay cả chocolate cũng cố tỏ vẻ đa dạng như tài năng của Mozart. Nhưng hấp dẫn và kịch tính nhất phải nói tới coffee nơi đây. Nếu như Budapest đặc trưng với các nhà tắm (bad) Thổ Nhĩ Kì thì Wien mang tới điểm sáng là những coffeehaus (coffee house) với trăm năm lịch sử. Những coffeehaus bạn có thể thấy trên mọi nẻo đường thành Wien nhưng không phải nơi nào cũng phục vụ nhạc sống như ở Central Coffee. Ghé vào quán lúc 9h đêm, chúng tôi nhanh nhảu gọi cho mình những ly coffee Brauner nồng vị coffee nặng, đắng nhưng sặc mùi sữa, được phục vụ chocolate ăn kèm. Ngoài Brauner,bạn cũng có thể gọi những tách Melange đặc trưng xứ này rồi ăn cùng bánh ngọt. Những chiếc bánh mousse chocolate ngọt ngào hay bánh kem tươi phủ đầy những quả mâm xôi đỏ rực, những bánh chocolate trắng bọc bên trong là bơ và dâu tây lỏng, bên những pastry hoa qủa rực rỡ những kiwi, xoài, dâu tây, ngon đến nao lòng. Du dương trong tiếng piano của một nhạc công luống tuổi, những quá khứ huy hoàng, những thành tựu vàng son ùa về đậu trên vòm nhà hoa văn tinh xảo, rung rinh những giàn đèn pha lê lấp lánh sắc vàng. (Không ngờ cũng có một ngày mình làm quý tộc)

1 ½ ngày dường như là quá ít để biết hết Wien, tôi còn chưa tới vào những lâu đài, còn chưa thăm dòng Donau, còn chưa nghe nhạc ở Volkstheater, và còn quá nhiều điều chưa làm. Tự hứa với lòng mình lần sau sang Wien tôi sẽ tới Hundertwasserhaus để nhâm nhi ly Brauner buổi sáng với thật nhiều sữa béo ngậy, tê tái với chocolate Mozart, lắng nghe một bản  violon, và nhìn vẻ đẹp độc đáo như tranh vẽ của những ngôi nhà nơi đây sáng lên trong nắng. Thế mới là…. Wien mãn.

MTN, 4/2010

Buda – Pest

Năm nay mùa đông của Châu Âu kéo dài dường như không dứt, thậm chí những ngày đầu tháng 3 tôi vẫn có thể xúng xính áo khoác đủ màu và tận hưởng thứ thời tiết có một không hai: sáng nắng chiều mưa, giữa trưa có tuyết, và cả ngày đầy gió Thời tiết vào xuân có vể đỏng đảnh hơn cả những cô gái đỏng đảnh nhất, khiến dân châu á chúng tôi không thể không ôm lăn lóc. Nhưng khi những đợt nắng tháng 4 đang ùa về, thì dường như không ai còn nhớ tới những ngày đông khắc nghiệt vừa qua, ai ai cũng hân hoan khi hoa nở vàng rực từng góc đường quanh thành phố. Với sinh viên thì sự hân hoan ấy càng nhân gấp đôi, gấp ba khi lễ Phục sinh tới gần. Ở những nước đa phần dân theo thiên chúa như Bỉ hay Anh, sinh viên đều được nghỉ lễ tới 2 tuần, khỏi phải nói tôi vui mừng và háo hức thế nào khi những con thỏ đang lăn trứng tới cửa nhà.

Tôi bắt đầu lên kế hoạch cho kì phục sinh từ những ngày đông tháng 2. Bao nhiêu dự định, bao nhiêu kế hoạch được lên một cách công phu tỉ mỉ, nhưng vì giá cả vé máy bay rồi khách sạn vào những ngào lễ tăng một cách bất thường, nên cuối cùng chúng tôi chốt hạ lại sẽ đi 3 nước trung tâm châu âu: Budapest- Prague-Vienna.

Buda bắc cầu sang Pest (Buda – Pest)

( tặng bạn Khôi, cảm ơn vì đã là người dẫn đường tận tâm )

 

“Bỏ học chứ?

“Ừ”

“Quyết chưa?”

“Quyết, bỏ mọi thứ đấy, lên đường”

Thế là chúng tôi – 5 đứa sinh viên ngoan mà không hiếu học quyết bỏ học 3 ngày để kiếm đựoc vé Ryanair rẻ nhất tới Bratislava thủ đô của Slovakia rồi bắt tàu qua Budapest.

Ấn tượng đầu tiên về Budapest là thành phố này cũ kĩ quá, những ngôi nhà nhuộm màu ám khói như bị thiêu cháy (lúc đấy tôi đã nghĩ sao nó không cháy nát cho rồi mà xây cái mới), con người trông vẻ mặt khắc khổ quá, và nhịp độ cuộc sống dường như chậm chạp hơn ở Bỉ nhiều. Cậu bạn Alex của tôi để quên hành lý ở sân ga, mãi 1 lúc sau nhớ ra, hớt hải chạy lại tìm kiếm thì thấy hành lý vẫn còn nguyên, không những thế mọi người đang kéo vòng tròn xung quanh. Mọi người giải thích rằng ở đây ai cũng cảnh giác cao khi thấy những túi đồ để chơ vơ nơi công cộng, bởi rất có thể trong đó có……… bom. Chị Giang bạn tôi học 3 tháng ở Budapest mà đã có tới 3 lần nhận được báo động có bom trong thư viện. Thế nên khi mới đặt chân tới nơi đây tôi cũng có phần hồi hộp, tưởng tượng sẽ có những chuyện giật gân xảy ra. Nhưng thực ra Budapest hiền khô và trầm tính.

Budapest hiện lên như một thành phố nhỏ xinh xắn với 2 vùng rõ rệt: Buda và pest. Buda là vùng đồi núi nằm phía Tây thành phố, nơi có những công trình xưa cũ như các lâu đài, các biệt thư, các nhà tắm Thổ Nhĩ Kì, nói chung là nơi ở của dân quý tộc thủ đô. Trong khi đó Pest nằm phía Đông là vùng đồng bằng trải rộng hơn Buda rất nhiều, bởi nơi đây là trung tâm mua sắm, làm việc, là nơi cư ngụ của “dân đen”, nhưng lại là trái tim của thành phố hiện tại. Đơn giản hãy nghĩ Buda nhỏ xinh như phố cổ, còn Pest là vùng Hà nội mở rộng nơi cuộc sống hối hả diễn ra. Du khách tới đây hầu hết là đi khám phá Buda và nghỉ ngơi ở Pest.

Để ngăn chia thành phố như thế, ắt là việc của sông Danube. Danube là con sông dài thứ 2 ở châu Âu chỉ sau sông Volga, khởi nghiệp từ khu rừng Đen (Black forest) của Đức, chảy dọc qua 4 thủ đô ở Đông Âu và rồi biến mất ở biển Đen (Black sea). Khi qua tới Budapest, Danube được gọi là Duna, thật không nói quá khi khẳng định rằng chính Duna đã mang lại diện mạo xinh đẹp cho Budapest, bởi có nó, người dân nơi đây đã trang hoàng tới 7 cây cầu lớn bé với những kiến trúc từ tinh xảo mềm mại tới hùng dũng kì vĩ. Và chính những cây cầu là thứ tuyệt diệu nhất ở Budapest.

(Cầu Xích với những chú sư tử oai vệ)

Đi dọc theo dòng chảy Duna qua Budapest, cây cầu đầu tiên mang lại vẻ đẹp mạnh trong du khách là cầu Xích (Széchenyi chain bridge). Đây là cây cầu vững chãi đầu tiên được vinh hạnh bắc qua Duna xinh đẹp. Vào thời kì hoàng kim, cầu xích được coi là một trong những kiệt tác của nhân loại với tạo hình hùng dũng của những sợi xích khổng lồ và bốn chú sư tử tuyệt đẹp canh gác ở bốn đầu cầu. Hình ảnh những con sư tử trong tư thế nằm ngẩng cao đầu không khỏi khiến mọi người xuýt xoa bởi cách tạo hình đầy uy quyền mà quyến rũ. Tuy nhiên đôi mắt u buồn của chúng cũng nhắc người ta lại sự kiện đau lòng về con người thiết kế nên cây cầu- William Tierney Clark.

William Tierney Clark là một kĩ sư cầu đường hàng đầu thời đó của châu Âu, những công trình của ông ngang dọc châu lục này khiến ai cũng phải cúi đầu ngưỡng mộ và buông lời tán dương. Nhưng cũng chính tiếng vỗ tay làm chết đi con người tài năng này. Sự tài năng thường đi kèm sự tự tin tới mức tự đại, ( theo truyện kể từ người bạn dẫn đường của chúng tôi ở Budapest) khi hoàn thành xong cây cầu xích, William tuyên bố rằng đây là một sản phẩm hoàn hảo, nếu ai tìm ra được một khiếm khuyến nào thì ông sẽ nhảy cầu tự vẫn. Một ngày kia có một chú bé đến cầu chơi, đột nhiên chú nói “Mẹ ơi, những con sư tử này không có lưỡi”, William bàng hoàng phát hiện một sự thật hiển nhiên và ông đã tự sát ở ngay cây cầu này (Nhưng được chết bên cầu Xích và đắm mình dưới dòng Duna, tôi cũng cam lòng)

Có lẽ vì truyền thuyết đau thương này mà cây cầu xích được ưu ái và yêu thích nhất trong những cây cầu ở Budapest. Hơn thế nữa, vị thế của cầu cũng rất đẹp, 1 đầu dẫn thẳng vào cung điện hoàng gia, một đầu đưa tới viện hàn lâm khoa học, kế bên đó là toà nhà quốc hội với những tháp nhọn cao vút như chọc thủng từng mảng trời đông Âu. Trước toà nhà, một lá cờ đục lỗ tung bay trong gió, lỗ trống ấy như nhắc tới một phần máu thịt của đất nước đã nằm xuống hay một vết thương không thể liền da của trận cách mạng đẫm máu thời quá khứ.

Khi những ráng trời tím đỏ tìm về, ánh hoàng hôn rực rỡ trên dòng Duna, những cung điện những toà nhà bao trùm một màu hoàng kim xưa cũ, cầu Xích hiện lên vừa oai hùng, vừa bi tráng, với vẻ đẹp tới nao lòng. “Gío sông Dịch lạnh ghê, tráng sĩ một đi không trở về”

(xa xa cầu Elizabeth về đêm )

Sát cạnh bên cầu Xích, cầu Elizabeth (Erzsébet híd) lại mang một vẻ đẹp đối lập, mong manh, quý phái với những sợi cáp trắng. Đây là một trong những cây cầu mới nhất ở Budapest, được đặt theo tên vị nữ hoàng tài ba Elizabeth của đế chế Áo- Hung một thời. Ban ngày cầu Elizabeth không có gì quá đặc sặc nổi bật để thu hút cái nhìn của du khách. Cầu đứng khép mình, nhạt nhoà, “ngây ngây thơ thơ như hai hạt cơm nguội “, nhưng tới ban đêm là lúc nó vươn mình trở thành vị nữ hoàng thực thụ. Ngập mình trong thứ ánh sáng trắng rực rỡ từ giàn đèn công phu tới từ những người Nhật, Elizabeth trắng lên kiêu kì giữa bạt ngàn ánh vàng dát đều từ những nóc nhà, những cung điện, những ngọn đèn đường, hay từ ôtô đi lại trên cầu. Elizabeth thể hiện đúng đẳng cấp của mình: sang trọng, lịch lãm, kiêu kì mà không chói loá, nổi bật mà không phô trương, đằng sau sự yếu đuối là một sự mạnh mẽ, uy quyền. Đâu đó có cái cương trong cái nhu, có cái khí chất của vị nữ hoàng quyền lực bậc nhất châu Âu này.

Nếu như Elizabeth được ví như vị nữ hoàng trên sông Duna thì hai bên nữ hoàng ắt phải là những chàng cận vệ vạm vỡ, đẹp trai. Cầu Xích đã làm rất tốt vai trò của nó ở phia cánh tả, thì phía cánh hữu đường bệ cầu Tự do (Freedom hay Liberty Bridge).

Trong danh sách những nơi “gay cấn” cần đi mà tôi nhờ người bạn ở Budapest ghi cho, cậu ấy đã cẩn thận ghi chú : Cầu Freedom: chụp ảnh rất đẹp, thế nên nơi đầu tiên tôi chạm trán ở Budapest chính là cầu Tự do.

(Cầu Tự do ngắm từ lưng chừng citadel)

Cầu Tự do (Szabadság híd) với kết cấu sắt cực kì vững chãi, sáng bóng nổi trội dưới ánh nắng bởi màu xanh ngọc bắt mắt, phải nói là một vẻ đẹp không tì vết. Trên cầu được trang trí bởi hình quả thông và hình ảnh chim Turul (giống chim ưng) trong thần thoại Hungary, đặc biệt giữa cầu nổi bật quốc huy Hungary rực rỡ trên cao. Ban ngày có thể nói rằng cầu Tự do là điểm nhấn đặc biệt trên dòng Duna, khi mà sông không xanh (ôi còn đâu Danube blue) thì còn cầu xanh vớt vát. Nhưng phải ban đêm, chàng hộ pháp mới khoe được hết vẻ rực rỡ, nhưng cũng đầy thanh tú với muôn ngàn ánh đèn trắng.

Tới cầu Tự do, không ai có thể bước qua ngay khi còn phải dừng lại chụp ảnh nhiệt tình bởi màu xanh quá đẹp, bởi khung cảnh quá hữu tình, hoặc cũng có thể dừng lại bởi một bên chân cầu là chợ trung tâm (Nagycsarnok – Central market hall) bên kia lại khu nhà tắm Thổ Nhĩ Kì hay citadel thơ mộng.

Chợ Nagycsarnok rộng lớn với vô vàn sản phẩm truyền thống như bột ớt (paprika) hay các măt hàng thêu, ren, trang sức bắt mắt. Những hàng rau quả màu sắc chen chân bên những hàng bánh retek (strudel) nhiều vị khiến ai cũng thòm thèm : retek nhân táo, nhân cherry, nhân pho mát ngọt, hay có khi là nhân cải bắp mặn, ngon, bổ, rẻ tới sững sờ. Trong khi đó, những nhà tắm Thổ Nhĩ Kì mang bạn về với khung cảnh sa hoa vua chúa ngày xưa, phải nói đây là một nét cực riêng của Budapest. Với những bồn tắm nước nóng, hay những phòng xông hơi, 2 người bạn của tôi: Mireia và Arnab mê mệt ở đó nửa ngày vẫn không muốn ra. Tôi thì không khoái khoe thân hình phì nhiêu (nhưng thực ra do nghe nói mấy cái phòng tắm hơi đấy chỉ toàn các ông bà già vào dưỡng sức nên cũng chẳng có hứng, hehe) thế là cùng 2 chiến hữu còn lại Ngân và Alex, tôi leo lên đỉnh Citadel để quyết chạm vào cô gái cầm bông lúa (Liberty statue).

Với những lối mòn đá sỏi chen nhau cùng hoa cỏ mùa xuân, với những cây anh đào rực hoa hồng phớt, với tầm nhìn vượt qua cả dòng Duna, citadel khiến bạn hồ nghi về mắt mình. Cảnh thành phố dần hiện lên theo từng bước chân người bộ hành, từng bước từng bước, từng nóc nhà, từng con phố hiện lên như trên tấm sa bàn. Ngồi trên cao nhìn xuống bát ngát sông nước , nhìn lên lồng lộng trời mây, 7 cây cầu trên dòng Duna dường như đếm được, ai cũng dấy lên những cảm giác trong mình. Bạn tôi – Ngân ngồi thở dài tiếc vì không được đi với người yêu, anh bạn Alex thở dài vì… mệt, còn tôi thở dài vì khoảnh khắc ấy chỉ có một trong đời.

Ôi Budapest càng nhìn càng đắm, càng ngắm cành yêu.

MTN, 4/2010