KHI KHÍ CẦU BAY LÊN

330129_10150439253477007_103950393_o

Ở Luxor có một việc bạn không thể không làm, đó là bay lên khinh khí cầu.

Nếu ở châu Âu muốn lên khinh khí cầu, bạn phải mất tới vài trăm euros, như ở thung lũng Loire của Pháp, người ta phải chi tới 300e cho 1 tiếng du ngoạn trên không. Thế nhưng ở Luxor, chỉ gói gọn trong 40 euros, bạn đã được lên độ cao 7000m, ngắm toàn bộ sông Nile, thung lũng các nhà vua, những ruộng mía xanh ngắt, và ra về với tấm bằng công nhận: Bạn đã bay lên trời.

Đi Khinh khí cầu ở Luxor đơn giản nhưng cũng không giản đơn. Việc đầu tiên, tụi tôi phải chọn được một hãng hợp lý giá cả và an toàn. Các hostel ở đây thường giới thiệu để ăn hoa hồng nên việc lấy thông tin quá dễ dàng. Chỉ có điều thật khó để biết hãng nào tốt, xấu khi mà các tờ rơi đều đẹp và hấp dẫn. Chọn tạm một hãng vì có thể kì kèo làm giá với anh chủ hostel, cả lũ an tâm ngồi đợi trời sáng, cho chuyến du ngoạn ngắm bình minh. Chuyến du hí trên không này đã xảy ra từ năm 2012, khi tai nạn khinh khí cầu thảm khốc ở Luxor chưa xảy ra, nên lúc đó tất cả vẫn còn phấn khích, hào hứng không chút lo sợ trong người. Nếu mai này quay lại Ai Cập, tôi ngờ là cả 5 đứa sẽ chẳng dám đặt chân vào cái giỏ mây khổng lồ ấy nữa.

Ngày hôm đó thì khác. Ngày hôm đó, cả lũ được đánh thức từ 4h sáng. Sau đó anh tour guide lùa cả lũ ra xe ô tô. Có đến cả chục cái ô tô cũng tụ lại một điểm để đón khách từ các hostel khác nhau. Khách mặt mũi đứa nào cũng bơ phờ, ngai ngái buồn ngủ, dù trong lòng đầy phấn khích. Xe chạy trong bóng tối. Xe chạy qua đường đất bụi. Xe chạy tới sông. Thuyền lúc này đã đậu chật bến. Từng nhóm nhỏ lên thuyền, ở đó có trà bánh bày ra làm bữa sáng, trong cái leo lét của đèn vàng. Mọi người hào hứng, ăn bánh, uống trà, nói về hành trình ngắn ngủi sắp tới, còn anh lái thuyền vẫn chăm chú nhìn vào đêm. Qua sông, tới xe, xe lại tiếp tục chở người băng qua những con đường hoang vu như đi vào sa mạc. Chạng vạng sáng, có tiếng gió len như tiếng khóc của Eos trước xác con ¨Memnon, Memnon¨. Chính vì thế mà ở đây, hai bức tượng khổng lồ pharaoh Amenhotep III trước đền của ông lại mang tên người anh hùng thành Troy – Memnon. Hai bức tượng ghép từ hàng trăm khối đá, đã bị xước mặt, sừng sững trong ánh sáng nhập nhoạng của ngày mới.

418540_10150544845037007_1815060990_n

406563_10150544844732007_584420917_n

Trong ánh nhập nhoạng ấy, có những khí cầu đã bay lên, một vài nằm dưới đất, che một vùng rộng lớn. Những khối lửa được đốt lên, lan tỏa hơi ấm một vùng. Ai Cập những ngày đông thật lạ, sáng lạnh tím môi mà đến trưa thì nắng mồ hôi không toát được. Chút lửa từ những khinh khí cầu chuẩn bị bay làm hồng má, hồng trời. Trên chiếc giỏ to, vài chục người chen chúc, hăm hở cho lần đầu lên cao, theo mặt trời. Khí cầu dần bay lên, tôi hào hứng hết sức. “Ah ah, bay rồi¨. Tôi quay sang lũ bạn cười sung sướng. Khí cầu từ từ, xé tung màn sáng nhờ nhờ. Trời còn màu tím nhạt dịu dàng. Cô bạn quay sang “Máy ảnh nào có thể chụp được đẹp như mắt mình thấy đây?”.

 431367_10150544844537007_1957184273_n 431022_10150544844257007_1925017442_n

Khí cầu bay tới đâu, mặt trời hiện ra đến đó. Trời nhá nhem bắt đầu sáng dần lên. Khối khí đỏ rực hiện mờ mờ từ phía xa, rồi rõ nét qua những cánh đồng mía. Những rặng núi không tên có tuổi cứ nâu dần trong làn sáng.. Mặt trời đi lên từ đất, nằm phía bên kia sông Nile, mang từng lớp ánh sáng trắng, vàng, đỏ cho bầu trời vô sắc. Thế rồi, từ từ, nhẹ nhàng, khí cầu bay lên, đưa mặt trời, quang cảnh sông Nile, nhà cửa, cánh đồng, thung lũng vua, hoàng hậu và người đàn bà quyền lực Hapchepsut vào lòng mắt. Bụi ở đâu bắt đầu bị thổi lên.

422410_10150544844372007_814551960_n 427343_10150544843972007_1655338864_n

Khí cầu bay nhè nhẹ, là là, tưởng chừng như đứng yên tại chỗ. Người điều khiển khinh khí cầu bắt đầu giải thích về các thung lũng. Thung lũng của các vị vua với khoảng 63 ngôi mộ của nhiều triều đại từ 18 đến 20, vẫn đang được khám phá. Nếu như tới Abu Simbel hay Luxor hay bất kì nơi nào cũng thấy dấu vết của Ramset II thì ở thung lũng này là nơi hiếm hoi để thấy ảnh hưởng của con trai ông Ramset III. Mộ của Ramset III vĩ đại còn nguyên vẹn trong lòng núi với những bức vẽ màu sắc tinh xảo. Mộ hoàng hậu và 2 con trai của ông cũng là nơi duy nhất mọi người được tham quan bên thung lũng các hoàng hậu. Xa xa còn có thung lũng của các quý tộc thời đó. Những thung lũng này chứa chấp nhiều lịch sử, nhiều hoàng kim cũng như đố kị sâu trong các lớp đất đá. Ở đó không có những kim tử tháp to lớn, phô trương, bởi nỗi sợ hãi không chỉ nằm ở kẻ thù mà còn gió cát sa mạc và nước sông Nile.

Thứ duy nhất uy quyền và thanh thế có lẽ là đền thờ Hapchepsut, nhưng không thuộc cả 2 nơi trên. Tôi vẫn luôn thích nói về Hapchepsut – một nữ Pharaoh đúng hiệu. Hapchepsut từ một công chúa trở thành hoàng hậu khi lấy chính em trai mình . Bà lên ngôi khi chồng chết, trị vì 21 năm (có nơi bảo 16) tới khi bị cháu trai – con riêng của chồng cũng là con rể bà lật quyền. Hapchepsut tự xây cho mình khu đền nằm ngoài thung lũng hoàng hậu, tựa lưng vào thung lũng nhà vua, nhìn ra sông Nile xanh ngắt. Ở đó tượng của bà nam tính, không tóc giả, váy mỏng như Neferiti hay Cleopatra – những người còn lại trong bộ ba nữ quyền của lịch sử Ai Cập cổ. Hapchepsut đội miện, quấn vải gọn gàng, y chang 1 Pharaoh thứ thiệt. Người đàn bà tham vọng này chẳng là vua, chẳng phải hoàng hậu, bà là tất cả.

400668_10150447640267007_1184606777_n

 Khí cầu bay cao lên, thế giới dưới chân rộng dần. Đã 5.000 mét, 6.000 mét, rồi 7.000 mét, tôi không tin nổi mình đã bay cao tới thế (dù vẫn chăm chăm nhìn vào máy đo độ cao). Không khí mát lành của một ngày mới ùa vào mắt, môi, lồng ngực. Khinh khí cầu ôm trọn một ngày mới. Nó khiến tôi lâng lâng tới cả khi đáp xuống giữa mênh mông sa mạc.

Qúa khứ chẳng bao giờ ngủ yên, trong gió cát vẫn còn những tiếng vọng từ ngàn xưa ¨Memnon, Memnon¨ thật da diết.

 

Những người Ai Cập da đen

399845_10150544842512007_1910214656_n

Chuyến đi tới Ai Cập của tôi được bạn bè vạch sẵn kế hoạch : Cairo, Aswan và Luxor.  Ai cũng biết ở Cairo có hệ thống kim tự tháp Giza, ở Luxor có thung lũng các nhà vua và hoàng hậu, còn ở Aswan thì có gì ? Tại sao nó lại thành điểm đến của chúng tôi ? Ban đầu, tôi chỉ nghĩ đơn giản, mình muốn tới đền thờ Abu Simbel của Pharaoh Ramses II cùng vợ Nefertati, muốn tìm con cá sấu trên hồ Nasser, hay xem cây cột Obeslik dang dở, to nhất thế giới, to tới nỗi chưa bao giờ được dựng lên. Sau này, tới Aswan rồi, tôi mới biết, ở đây có nhiều điều hơn để khám phá. Có quá nhiều câu chuyện ẩn sâu trong thành phố này, như chuyện về những người Nubian chẳng hạn.

Người Nubian hay còn gọi là người Kush, khác với những người Ai Cập còn lại, bởi họ có màu da sẫm, dáng thô, thích đeo khuyên vòng, nên còn được gọi là người Ai Cập da đen. Cách gọi này thực ra chỉ đúng với hiện tại, khi người Nubian sống lẫn trong những người Ai Cập da trắng trong các thành phố ở đất nước này. Còn lật ngược về quá khứ thì cách gọi này hoàn toàn sai lầm.

 Người Nubian là một tộc người khác hẳn, họ có văn hóa, có ngành nghề và ngôn ngữ riêng mà còn được ghi nhận là một trong những thứ tiếng châu Phi lâu đời nhất. Người Nubian xưa xât dựng cả một vương quốc hùng mạnh ở phía nam, bên bờ sông Nile, nơi Nile xanh và trắng bắt đầu rẽ ra. Vương quốc này sống hòa thuận với Ai Cập, định cư ở phủ phủ Thebes (nay là Luxor) cách đó chừng nghìn kilo mét. Hàng hóa trao đổi của dân Ai Cập một thời xuống phần kia của châu Phi, ra biển Đỏ đều phải đi qua vùng đất Nubia này. Cuộc sống ở đây thật hiền hòa như nước sống Nile, cho đến khi sự tham lam lấn át tất cả.

Khoảng năm 2000 trước công nguyên, người Ai Cập bắt đầu xâm lấn và thống trị vương quốc của người Nubia. Tuy nhiên, trong thời kì người Ai Cập bị yếu đi trước sự tấn công của các kẻ thù khác như Hyksos, người Nubia đă đứng lên, dành quyền lực, mở ra kỉ nguyên Kushite trên lãnh thổ Ai Cập, khoảng năm 700 trước công nguyên. Piye chính là vị Pharaoh Nubian hay còn gọi là Pharaoh da đen đầu tiên trị vì Ai Cập trong ba phần tư thế kỉ. Những vị Pharaoh da đen này đã áp đặt văn hóa của người Nubia lên đất nước, như xây dựng kim tự tháp không có chóp nhọn mà phẳng, cạnh bên dốc hơn, giống như những kim tự tháp của người Sudan. Trong khi đó, người Nubia thì chịu ảnh hưởng về quần áo và chữ viết của dân Ai Cập. Thời đại rực rỡ của người Nubia chỉ kết thúc trước sự xâm lược của người Assyrian từ châu Á. Họ lại lui về sống ở nơi cũ, phía nam bờ sông Nile.

Mọi việc có lẽ đã yên ổn, cho tới khi người Ai Cập hiện đại cho xây dựng đập High dam ở Aswan. Những ngôi làng của người Nubian nằm ở hạ lưu con sông đã bị nhấm chìm trong nước. Chỉ khoảng 50 000 người Nubian sống sót, rải rác khắp nơi. Họ dần đánh mất mình, hòa vào trong những người Ai Cập còn lại. Tuy nhiên, phần đông những người da đen này vẫn cố bám lại Aswan đầy bụi đường đất đỏ. Thành phố này nằm in trong gió cát sa mạc, bên sông Nile xanh biếc, nơi những cánh buồm trắng Felucca vẫn giong trước gió.

426523_10150543913362007_1430243318_n

Một trong những cánh buồm đó đã đưa tôi tới một ngôi làng nhỏ của người Nubian, nằm trên hòn đảo Elephantine. Trong ráng chiều, những con lạc đà đi về nhà in bóng khổng lồ bên những đụn cát, thật buồn. Dọc đường đi, bên sạp hàng, có người đàn ông đang ngồi làm cốc cát. Ông tỉ mẩn đổ cát vào chiếc cốc thủy tinh nhỏ, lớp này chèn lên lớp kia, các màu sắc xanh đỏ, tất cả đều là cát tự nhiên, tạo nên những bức tranh thật đẹp. Những cây dừa, những con lạc đà, những cánh chim nhỏ đang bay, tất cả đều cố gắng sống trên những triền cát bao la. Vũ trụ hay sa mạc đều có ngôn ngữ riêng của nó, mà phải hiểu thì mới sống nổi. Những người Nubian tội nghiệp này, họ biết rằng họ sống với sa mạc thì phải chấp nhận, phải yêu gió, cát, tận dụng chúng để sống sót. Họ đã khéo léo biến những bụi bặm kia thành những bức tranh cát hay đồ gốm đẹp đẽ. Chúng tôi đi quanh các gian hàng, mọi thứ thật dễ thương, rẻ và đượm chút lưu luyến thời quá khứ.

430697_10150543913232007_1079236785_n

Những ngôi nhà ở đây xây bằng đất không có mái nhìn thẳng lên trời, bởi họ bảo ở đây chẳng bao giờ có mưa cả. Họ còn thèm khát mưa tràn vào nhà để tẩy hết những bụi bặm. Dù không có mái nhưng những ngôi nhà cũng chia làm các tầng khác nhau. Ngồi trên tầng cao nhất, có thể thấy cả trời đêm sa mạc rất rộng lớn, với vô vàn những ngôi sao sáng. Sao nhiều như thế, làm sao mà có mưa đây ? Câu hỏi đó có lẽ cũng hằn lên khuôn mặt của những người đàn bà Nubia. Những người đàn bà béo tốt, đứng khắp nơi, bán những thứ đồ chơi tự làm. Họ làm những con búp bê gỗ đầu đội gạo, bánh, hay ngũ cốc, mang đi bán, da ngăm đen, tai đeo khuyên to, với bộ quần áo vải mỏng quấn quanh. Những con búp bê ấy cũng giống như những người Nubian xưa, khắc khổ, đội mưa nắng.

419015_10150543913142007_1125115322_n 430942_10150543913057007_1918829530_n

Trong những ngôi nhà, cá sấu được nuôi như thú cảnh. Cá sấu mõm nhọn, răng sắc khiến khách tới đều run sợ. Nhưng thịnh tình mến khách của chủ nhà khiến nỗi sợ qua nhanh. Những người phụ nữ nhanh chóng dọn mâm cơm : thịt viên, koshari (thứ hỗn hợp các loại hạt), súp, rồi trà đều rất ngon. Khi bữa cơm xong, người phụ nữ đã khá già, mang theo bút và mực ra, cầm lấy tay chúng tôi vẽ Henna. Henna là loại hình xăm rất tinh tế của người Ai Cập, vẽ bằng loại mực đặc biệt, có thể bị phai dần sau 1 tuần. Tôi đòi bà vẽ cho hình xăm hình kim tự tháp Ai Cập với con mắt ở trên. Con mắt thánh này luôn được người Ai Cập tôn thờ, giúp chống quỷ dữ và làm người ta nhìn được sáng suốt hơn. Bạn tôi Vân vẽ hình con mắt riêng, còn Trang chọn hình hoa phức tạp chạy dọc cả bàn tay. Henna đã theo tôi trong cả chuyến hành trình Ai Cập thú vị. Nó luôn làm tôi nhớ tới những người Nubian hiền lành, cam chịu, dễ thương.

Những người Nubian dù mất vương quốc, mất mảnh đất sống, vẫn kiên cường, như những kim tự tháp vững chãi ngoài sa mạc. Có lẽ họ thì thầm với nhau ¨Mabtuk¨ – mọi việc đã định sẵn rồi, hay vui vẻ chấp nhận.

420205_10150543935542007_24806704_n

426996_10150543935727007_879450565_n

Aswan nơi dòng sông ngừng chảy

( Khi chán viết một bài văn dài, hãy ghép câu thành một bài thơ ngắn)

Aswan sáng mùa đông

Nắng chói và bụi mịt mù

Taxi chạy láo, đâm quáng quàng

Vào nhà nghỉ sập xệ, như tan nát.

Ngáp ngắn dài sau chuyến tàu đêm

Vượt hàng trăm cây số để đến

Nơi dòng sông ngừng chảy

 

Có thật là ngừng chảy?

Khi  Nile xanh sẫm vẫn buồm trắng

Cánh gió buông lơi.

Elephantine đảo chiều tà

Trời đong sắc đỏ vào tường nhà

Nhà không mái, bởi mưa có bao giờ buông tới

Cá sấu nằm khát giọt 10 năm.

 

Trong đêm tối

Người đàn bà Nubian cục mịch

Đầu đội thúng đồ, tay vẽ henna

Đứng khép nép, tránh lũ lạc đà về bản

Cát bao la như sa mạc hóa cả dòng sông.

 

Một sớm mai, trời chưa tỉnh giấc

Uà vào xe như đàn lợn, con gà

Abu Simbel hay hồ Nassel

Ramset oai hùng hay Neferiti kiều diễm

Tất cả đều ở đó, đẹp và buồn.

 

Trận chiến thắng Sudan và nỗi buồn bị chìm lấp

Dưới đáy hồ Nassel những ngôi làng Nubia than khóc

Với cá sấu và gió sông Nile.

Một chiếc cột Obelisk dang dở

Một cái đập sâu lòng và dư âm của Nga

Một buổi chiều tà, hoàng hôn ánh tím

Felucca cánh trắng

Và các chàng lái thuyền áo trắng

Sông Nile lạnh ngắt trong ráng trời

Nắng buông lơi và cuộc sống buông lơi.

 

Trong đêm Ả rập

Không gian ngưng đọng

Còn thời gian ngừng chảy

Aswan 12/2011

Luxor những đền đài thời gian

( lại một thứ đặc tả nghe từ miệng các anh guide)

Thời gian là kẻ thù của mọi thứ, kể cả ( đặc biệt) hạnh phúc hay tình yêu.

Dường như chỉ có Ai cập được kẻ bạo hành nương tay nhất . Khi Cairo vẫn ôm ấp những kim tự tháp kì vĩ, khi Luxor còn khỏa lấp với thung lũng các vị vua giấu sâu trong mình, thì Ai Cập còn bền vững. Những đền đài nghệ thuật không chết đi theo thời gian mà chỉ giá trị và linh thiêng hơn.

Luxor, cố đô xưa cũ của Ai Cập, vốn được biết với tên Thebes. Khi dân hồi giáo tới đây, họ thấy những lâu đài tráng lệ, những đền thờ nguy nga, những mộ phần lộng lẫy và Luxor ra đời  (teo tiếng ả rập nghĩa  là những lâu đài). Nằm ở thượng lưu Nice, nhờ ơn thần Amun, dân nơi đây sống khỏe mạnh bởi khai thác đá Alabaster và uống nước mía. Để cảm tạ vị thần này, dân Luxor xây cho Amun không chỉ một đền mà một khu đền rất oách tên Karnak. Tôi nghi rằng Karnak theo tiếng ả rập (hoặc ả nga) nghĩa là choáng ngợp bởi đó là cảm giác đầu tiên khi bước chân đến đây. Một pharaoh trước khi lìa trần thường trăn trối lại ¨ Ta trao cho con mũ miện, quyền trượng, và Karnak để … tiếp tục xây dưng¨ (tôi bịa đấy). Là một thứ cha truyền con nối nên sự hoành tráng của Karnak là không thể chối từ (có tới 11 đời Pharaoh đã nhúng tay vào công trình này). Đó là thể thống nhất những lộn xộn nghệ thuật.

Khi xưa, dân Ai Cập thích xây nhà rồi mới xây cổng. Mặt trời đã bao lần mọc lặn trên thung lũng các nhà vua mà cổng thành của Karnak vẫn chưa hoàn thành và sẽ chẳng bao giờ hoàn thành nổi. Tuy nhiên ẩn sau nó lại là cả một công trình đồ sộ, tinh xảo, đủ đầy. Đầu tiên là hàng tượng nhân sự đầu cừu, rồi khu sân rộng cùng những gian phòng nhỏ thờ thần Amun, vợ thần -Mut và con trai thần – thần mặt trăng. Nơi cúng tế dựng nên những bệ đá Alabaster trắng sữa để dân thường tụ tập khấn vái.

Dân có thể cúng các vị thần hoặc các pharaoh tôn kính. Bởi bên cạnh tượng thần Amun cùng vợ (ảnh bên), thì tượng Seti I, tượng Tutankhamun cũng hiện hữu. Nhưng như hầu hết các công trình kì vĩ khác của Ai Cập, nơi hoành tráng nhất của đền phải dành cho Ramset II. Người ta bảo Ramset II là kẻ đánh cắp vinh quang ghê gớm nhất trong lịch sử, khi đi đến đâu ông cũng khắc cartouche của mình, thậm chí khắc đè lên người khác. Ở Karnak cũng thế, trong căn phòng to rộng với hơn 134 cái cột giống hình những cây sậy, xây dựng bởi Seti I, trần nhà cũng chi chít cartouche của con trai ông bởi Ramset II thi công trang trí. Còn Cartouche là gì ấy hả? là cái hình oval có các chữ tượng hình ( con chim, con cú, con rắn, cái lông, đại loại thế) để thể hiện tên hiệu của Pharaoh. Căn phòng này vốn được xây dựng để làm nơi cho các Pharaoh biểu dương sức mạnh của mình. Pharaoh phải chiến đấu với mãnh thú vài ba lần trong cả cuộc đời vua chúa của mình (Có thắng được mãnh thú mới chế ngự được lòng dân). Lần cuối cùng thể hiện mình của Ramset II là khi ông 80 và ông phải đánh nhau với một con cá sấu sông Nile. Với sự tài tình nào đó, con cá sấu chết còn Ramset II sống tới tận năm 90 tuổi ( có lẽ là con cá sấu 2,3 ngày tuổi).

Những hàng cột chi chít cartouche

Đi sâu hơn vào bên trong Karnak, nữ quyền in dấu. Khoảng sân rộng với những cột obelisk hay tượng Pharaoh như xác ướp của nữ hoàng Hatshepsut uy nghi. Obelisk không chỉ tượng trưng cho sự sùng bái thần thánh mà đơn giản giống như biển báo ¨Ở đây có một cái đền¨. Hatshepsut cho bọc hợp kim vàng hai Obelisk để chúng sáng choang một góc trời. Một obelisk cho cha mình, còn cột còn lại cho vị cha tối thượng Amun. Như tất các cả Pharaoh nam khác, Hatshepsut luôn tự coi mình là con gái của thần. Hẳn cũng vì cái sáng choang ấy mà khi con rể của Hatshepsut lên ngôi, hắn cho xây tường bao quanh để che dấu đi sự xấu hổ của dòng tộc (Lonely planet thì bảo hắn cạo sạch hợp kim vàng). Thời gian phủ bụi lên Obelisk, đập đổ tường vây. Một Obelisk lộ ra chẳng còn sáng lóa, một cột Obelisk gục xuống vẫn bóng nguyên màu granite. Hatshepsut dù bị hạ bệ, vẫn được ghi nhận thân phận đế vương cùng những dấu tích chẳng thể tàn phá bởi Thumose III hay cát bụi thời gian.

Cát bụi thời gian chỉ che phủ hồ nước xưa kia các thầy tu tắm mình ngày hai lần để thanh khiết cơ thể (không phải tắm bùn thì sạch là đúng rồi). Ngày nay hồ không còn, thầy tu cũng chẳng có, chỉ chệm trễ một cột đá diệu kì. Tôi vẫn chưa biết vì sao nó kì diệu nhưng nghe đồn là nếu đi vòng quanh nó 3 vòng sẽ trở nên giàu có, 7 vòng sẽ tìm thấy tình yêu, còn 50 vòng tôi đoán là sẽ thành tour guide. Tôi với Trang, Vân cũng cố kéo nhau đi hết 7 vòng (không dám đi thừa một bước chân), năm nay mà không có gì xảy ra thì người Ai Cập sẽ bị chất vấn về vụ này.

Khu vực hồ kéo thẳng ra cánh cửa phụ của đền, nơi gần ngay cảng sông Nile. Hàng năm khi lễ hôi Opet diễn ra, hàng đoàn thuyền sẽ được điều động tới, đưa rước thần Amun cùng lễ vật tới thăm vợ thần là thần Mut ở đền Luxor. Nghe cũng hao hao cầu ô thước với Ngưu Lang, Chức Nữ. Chỉ khác là cả đi và về Ngưu Lang đều phải leo cầu quạ, còn thần Amun khi đi tàu biển, lúc về ngão nghệ thuyền mặt trời với nhiều người khiêng, vượt qua 3km đường nhân sư để về lại Karnak.

Đền Luxor nhỏ bé hơn Karnak nhưng cấu trúc tương tự với cổng thành, hàng tượng nhân sư bên ngoài , khoảng sân rộng thờ cúng và obelisk ở  lối vào. Trước đây Luxor có 2 obelisk đối xứng, nhưng một ngày Mohamed Ali nổi hứng nhổ bật một cái đi tặng người đẹp, thì chỉ còn lại một obelisk rất sáng giá và đáng được yêu thương. Không yêu thương sao được khi đền Luxor bé nhỏ này đã từng bị chôn vùi bởi cát sa mạc, bị đốt cháy bởi Thiên chúa giáo, bị phá nát bởi người ả rập. Bầm dập vậy mà đền vẫn đứng rất hiên ngang, ôm đầy sự lộn xộn.

Khi bước vào đền, đập vào mắt là sự chềnh ềnh của mosque hồi giáo ( dù là phần được thêm vào cuối cùng nhưng lại được nhận ra đầu tiên). Không phải người Hồi giáo không trân trọng tác phẩm cổ đại này, họ chỉ ngây thơ nhiệt tình thành vô tình phá hoại. Khi Nile dâng nước lên,  phù sa phủ ngập, rồi gió cát sa mạc tràn lên, giấu kín ngôi đền trong câm lặng. Người hồi giáo tới, bắt tay xây dựng nhà nguyện của họ trên mảnh đất bằng phẳng này. Bình yên cho tới một ngày họ thấy có những tượng đầu người trồi lên khỏi lớp cát. Không chịu được sự phiền phức này, họ chém tan mấy đầu tượng mà không ngờ rằng bên dưới đó là thế giới kì vĩ.

Những bước tượng câm nín. Nhưng sự ngoi lên của chúng cũng gây chú ý của cả Ai Cập. Đào xới bới móc vốn là việc dễ dàng nhất ( trừ ngành khảo cổ). Họ đưa lên cho thế giới cả một đền đài nguy nga, với 10 tượng Ramses II khổng lồ cả đứng cả ngồi, đội mũ miện hay mũ chiến tranh ( mũ chiến màu xanh, mũ miện màu trắng đỏ là sự kết hợp của mũ trắng của vùng hạ và mũ đỏ của vùng thượng ai cập). Chen giữa những cây sậy đá cao lớn, kể cả những tượng mất đầu vẫn đẹp nguyên sự oai hùng. Sau lưng người con thần Ra, tượng của Amenhotep III, của Tutankhamun cùng vợ, và một căn phòng hàng trăm cây cột như một hồ sậy đá nở rộ.  Thật là phục ý chí dựng cột của dân Ai Cập.

Họ dựng cột, dựng đền, dựng cả huyền thoại. Đền Luxor có 3 gian chính. Gian cuối dành làm nơi ở của các vị thần khách khứa trong lễ Opet, nhưng đã bị Alexander đại đế chen ngang, xây ngay một buồng nhỏ ở giữa phòng để dâng tặng thần Amun ( không hiểu vì sao vô duyên thế). Gian phòng này nằm ngay sau gian phòng của vợ chồng thần Amun. Còn gian ngoài cùng nơi chứa thuyền mặt trơi, có thời bị dân La Mã chiếm cứ. Khi trốn chạy khỏi chính quyền, họ nghĩ nơi nguy hiểm nhất là nơi an toàn nhất, nên đã cho bịt kín một căn phòng trong đền làm căn cứ. Họ trang trí tường và trần phòng bởi hình ảnh chúa jesu với các thiên thần. Khi không thể ra ngoài, thì người La Mã đốt lửa nấu nướng luôn tại đây. Căn phòng linh thiêng trở thành một cái bếp ám khói. Qủa là (đàn ông) Ai Cập xây đền, (đàn bà) La Mã xây bếp.

Về tổng thể đền Luxor là sự kết hợp tôn giáo kì lạ của hồi giáo, thiên chúa giáo, lễ giáo ai cập. Hiếm nơi nào các tôn giáo xa lạ lại cùng chung sống hạnh phúc như thế. Dù hiện hữu dưới hình dạng chúa Jesu, đức Phật hay thánh Ala thì chúng ta cũng chỉ có một đấng toàn năng. Thật không có gì sai trái khi dành tình yêu và niềm tin cho tất cả các hiện thân của người. Kể khi chúa bắt loài người phải chết vì tội lỗi xưa cũ của Adam và Eva thì cuộc sống tươi đẹp vẫn cần thật nhiều niềm tin.

Bầu trời xanh đã xóa nhòa sang tím đậm, sang đen. Khi trăng non ló rạng trên đầu con trai thần Ra, bóng đêm bao trùm cả Luxor. Một ngày đã hạ xuống nơi các vị thần, rồi sớm mai lại rạng ngời nơi các pharaoh. Sớm mai trên khinh khí cầu, tôi sẽ ngắm một bình minh.

Cairo thế giới đa chiều (P2)

( dù có cái báo cáo cũng cố sống chết viết cho xong Ai Cập, kẻo mai quên mất lại khóc thầm. Cảm ơn Trang, Duy vì đã cho mình ăn cắp những bức ảnh tâm huyết ;))

¨Nếu bạn bắn quá khứ bằng súng lục, tương lai sẽ bắn bạn bằng đại bác” – Raxun Gamatov, nhưng “Nếu bạn tôn thờ quá khứ hết bản thân mình, tương lai sẽ chẳng biết bạn là ai” – Tôi tự chế, hehe.

Khi quá khứ quá hào hùng thì hiện tại dễ mờ nhạt. Rome, Athens hay Cairo đều đang đánh rơi cái tôi của mình dưới bóng hình đồ sộ của cha ông. Giống như con gà con nằm dưới cánh diều hâu, không ai biết con gà ấy bị xơi tái lúc nào.  Có thể nó chẳng thể lớn lên  hoặc lớn lên hỗn mang với những cái lông khác màu, đa sắc, như cái cách những người con của Pharaoh đang làm với thành phố của mình. Một thành phố Hồi giáo có  gì đó để tò mò.

PHẦN HAI: THẾ GIỚI HỒI GIÁO

5h sáng, tiếng chuông từ giáo đường vang lên thúc giuc. Dân Cairo tỉnh dậy, ăn vận chỉnh tề rồi trải thảm ra quỳ lạy. Phụ nữ ở nhà, đàn ông ra phố. Những kẻ sùng đạo lúi húi tới giáo đường cầu nguyện. Những tiếng cầu khấn vang lên xì xầm cả buổi tờ mờ sáng. Bọn chúng tôi gắt ầm lên vì không thể nào ngủ được. Tôn giáo là một thứ chưa bao giờ tôi hiểu, khi đức tin là một thứ xa xỉ. Dù ngày ở Việt Nam, tháng nào tôi cũng đi chùa, nghe Thích Quảng Đức giảng bài, vào Thư viện hoa sen, hay ăn chay cũng không ngộ ra gì nếu tâm không sáng. Vậy mà dân Hồi giáo có thể sẵn sàng đánh bom cảm tử chỉ vì tin rằng có 72 cô nàng đồng trinh đang đợi trên thiên đường. Đạo Hồi kì diệu thật (dù 1 chàng và 72 nàng thì lại là một cái chết tê tái khác).

Ở Cairo, nhà nguyện – Mosque ở khắp nơi, không nhiều như cơm bụi Việt Nam, nhưng chắc chắn hơn số lượng đền chùa. Dân Ả rập một ngày cầu nguyện nhiều hơn số lần ăn cơm, 5h sáng, 9h sáng, 12h trưa, 3h chiều, 9h đêm. Không phải ai cũng tuân thủ đầy đủ như thế, nhưng họ không đọc kinh dưới 3 lần đâu. Đang bán hàng, anh chàng Mohamed có thể đóng cửa tiệm chạy vào góc nhà quỳ lạy. Cậu bạn Ahmed đang trong buổi học bỏ ra ngoài xì xụp dưới gầm cầu thang. Và những kẻ khác ngồi tư lự, cầu khấn trong lòng.


Khi đã ở Cairo, ngày thứ 1 cho Pharaoh, thì ngày thứ hai phải dành cho Mohamed Ali. Dĩ nhiên không ai ngồi trước tivi coi đấm bốc, 6 anh em chèn 1 con taxi chẹt cứng, chúng tôi quyết phải đi khám phá cái thế giới ả rập huyền bí. Với vô số các tòa nhà, mosque, tường thành, khu Citadel Hồi giáo tọa lạc ở nơi cao nhất của Cairo. Từ trên đỉnh cao này, cả Cairo bụi mờ mịt hiện lên như sa bàn. Xa xa, Giza tự thu mình một góc giữa cuộc sống hiện đại. Những kim tự tháp cổ mà hiên ngang, những ngôi nhà mới mà đổ nát, cũ kĩ. Nghe đồn cách xây dựng nhà bằng đất để trụ vững trước gió cát sa mạc là do dân Ai Cập cướp giật từ người Nubia. Ai Cập  – Nubia, đó lại là một câu chuyện quá ư dài dòng mà tôi sẽ hớt lẻo sau.

Tọa lạc trên đỉnh cao Cairo như ngọn hải đăng, Mosque Mohamed Ali là công trình to nhất thế giới hồi giáo. Xây dựng trong gần 20 năm cho con trai của Ali, thảo nào công trình này hoành tráng thế. Nhưng chắc gì nó đã được nhớ bằng câu chuyện nực cười Mohamed Ali và cái đồng hồ của ông. Xưa Mohamed Ali vì hâm mộ hoàng hậu nước Pháp mà nhẫn tâm nhổ 1 cột Obelisk (nhẹ nhàng như nhổ một cái răng khôn) gửi cho người đẹp. Bà hoàng yêu quí gửi lại cho ông chiếc đồng hồ làm quà. Hai ngày sau, đồng hồ chết, và từ đó không còn ngân tiếng nữa. Thật là lòng dạ đàn bà.

Đàn bà ấy mà, nói chung là xấu tính ( thở dài). Có thể vì thế mà hầu hết các mosque không cho đàn bà vào. Trừ nơi đây là ngoại lệ nên tôi cũng tranh thủ lê la. Kinh Coran vang lên từ đâu đó giữa những giàn đèn tráng lệ. Vài người quỳ lạy trên tấm thảm khồng lồ.  Ngoài kia trời xanh ngắt, mùa đông chạy đâu mất rồi. Xung quanh, khu hồi giáo sừng sững, uy nghi.  Dấu ấn hồi giáo thật sự đang làm mất hết nét ai cập xưa cũ.

Hồi trước tôi nghĩ, dân Hồi giáo phải ghê gớm, nghiêm nghị, nói chung là Bôn sê vích lắm. Ai ngờ họ hoạt bát, vui vẻ, lanh lợi, và cực kì dẻo mỏ ( các chị em sẽ khoái đến Ai Cập lắm). Không biết có phải do đàn bà Ai cập hay trùm kín thân, che mặt hay không, mà cứ thấy đứa mặt trần là các anh Hồi khen xinh đẹp. Các anh guide giỏi làm tiền ( đừng đọc nhầm), đua nhau đưa chúng tôi vào nơi làm giấy papyrus, granite hay nơi làm hương liệu rồi dâng nào trà ai cập, nào Hibicus miễn phí. Dù các anh có giới thiệu mùi hương Sa mạc đêm, chỉ xịt vào là khiến người tình nửa đêm cũng phải băng sa mạc mò đến; thì chúng tôi cũng chối từ mua. Ở châu Âu chẳng có sa mạc. Đàn bà Ai Cập thì không bán hàng ở chợ, cũng chả ra đường nên chúng tôi chịu không biết họ thế nào. Chúng tôi chỉ yêu những đứa trẻ Ai Cập, lém lỉnh dễ thương vô cùng. Lũ nhóc dẻo mỏ ấy gặp ai cũng đòi bút hoặc xin tiền. Chúng đói cả bụng lẫn tri thức.

Các anh chàng ở chợ Khan Al Khali còn dẻo mỏ gấp bội. Chắc chúng tôi cũng bị lừa mua không ít, nhưng giá cả chấp nhận được ( quy ra euro thì rẻ hề) nên vẫn vui vẻ mua. Ít ra mặc cả không thành, họ cũng không bao giờ đốt vía. Họ chả tiếc lời mà khen ngợi bạn xinh và thông minh (thứ mà em gái nào cũng thích nghe). Khan Al Khali đa dạng từ quần áo tới trang sức, từ thủ công mĩ nghệ tới đồ ăn. Đẹp và rẻ. Mến khách và dễ thương. Đến nỗi dù chỉ có 2 ngày ở Cairo, chúng tôi cũng dành tới 2 lần đi chợ, mỗi lần 2 giờ. Có khi chẳng mua gì, chỉ là xem chợ đêm Ai Cập. Đêm Ả rập huyền bí với những cuộc ngả giá vui vẻ. Cairo đáng yêu trong những cuộc hút shisha, trong những buổi Koshari chém gió, trong cốc nước mía vội vàng.

Hồi giáo với kẻ ngoại đạo hình như lại là tôn giáo thân thiện. Và Cairo nát bét lại thật là dễ thương. Trong cái lạo nhạo khói bụi, những màu sắc cuộc sống hiện lên thật sống động, tươi mới.